Góc Dạy học

Các tài nguyên về dạy học bao gồm: Giáo án điện tử, giáo án Word, SKKN-GPHI… là những sản phẩm của giáo viên trong, ngoài trường & do tác giả sưu tầm chia sẻ với các thầy cô.

—————————————————————————-

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOCÁC SỰ KIỆN NỔI BẬT CỦA NGÀNH GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NĂM 2009

          1. Bộ Chính trị ra Thông báo số  242-TB/TW về tiếp tục thực hiện Nghị  quyết Trung ương 2 (khoá VIII), phương hướng phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2020.

   Ngày 15 tháng 4 năm 2009, Bộ Chính trị ra Thông báo số 242-TB/TW  về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khoá VIII), phương hướng phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2020, trong đó đã khẳng định: Sau 12 năm triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 2, khóa VIII, sự nghiệp giáo dục và đào tạo nước ta có bước chuyển biến tích cực, đạt được những kết quả quan trọng, về cơ bản đã thực hiện được các mục tiêu, nhiệm vụ nêu trong Nghị quyết. Tuy nhiên so với yêu cầu của Nghị quyết và yêu cầu phát triển của đất nước, vẫn còn một số nội dung chưa đạt được. Vì vậy, đồng thời với việc chỉ đạo ngành giáo dục cần sớm khắc phục những tồn tại, hạn chế yếu kém; Bộ Chính trị cũng đã chỉ rõ bảy nhiệm vụ, giải pháp để phát triển giáo dục đến năm 2020. Cũng trong Kết luận này, Bộ Chính trị giao Ban cán sự Đảng Chính phủ xây dựng Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011-2020 và hoàn chỉnh Đề án đổi mới cơ chế tài chính giáo dục, trình Quốc hội xem xét, quyết định.

          Đây là những định hướng chỉ đạo rất quan trọng để giáo dục Việt Nam có thể hội nhập quốc tế vào năm 2020 khi nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp.

          Thực hiện Thông báo số 242-TB/TW, ngày 25 tháng 6 năm 2009, Ban Cán sự Đảng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ra Nghị quyết Thực hiện Kết luận của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2, khóa VIII, phương hướng phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2020; Đồng thời chỉ đạo các sở giáo dục và đào tạo, các đại học, trường đại học, học viện, trường cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp khẩn trương, nghiêm túc tổ chức phổ biến, quán triệt và xây dựng chương trình hành động thực hiện Thông báo số 242-TB/TW  của Bộ Chính trị.

            2. Quốc hội thông qua Nghị quyết về chủ trương, định hướng đổi mới một số cơ chế tài chính trong giáo dục và đào tạo.

            Tại kỳ họp thứ 5, Chính phủ đã trình Quốc hội Đề án đổi mới cơ chế tài chính giáo dục giai đoạn 2009-2014. Mục tiêu tổng quát của Đề án quan trọng này là: (1) Xây dựng cơ chế tài chính mới cho giáo dục, nhằm huy động ngày càng tăng và sử dụng có hiệu quả nguồn lực của nhà nước và xã hội để nâng cao chất lượng và tăng quy mô giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thực sự coi phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu; (2) Xây dựng hệ thống các chính sách để tiến tới mọi người ai cũng được học hành với nền giáo dục có chất lượng ngày càng cao. Đây là một đề án được đánh giá là có tính minh bạch, nhân văn, công bằng và hiệu quả.

          Ngày 19 tháng 6 năm 2009, tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 35/2009/QH12 về chủ trương định hướng đổi mới một số cơ chế tài chính trong giáo dục và đào tạo từ năm học 2010-2011 đến năm học 2014-2015, với 83,37% số phiếu tán thành. Thực hiện Nghị quyết 35/2009/QH12 của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1310/QĐ-TTg ngày 21 tháng 8 năm 2009 về việc điều chỉnh khung học phí đối với cơ sở giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học công lập thuộc hệ thống giáo dục quốc dân năm học 2009-2010. Đây là cơ sở rất quan trọng, làm căn cứ cho các trường xây dựng khung học phí mới, tạo thêm nguồn lực cho các trường để nâng cao chất lượng đào tạo.

          Đồng thời, ngày 03 tháng 12 năm 2009 Thủ tướng Chính phủ cũng đã ký Quyết định ban hành Kế hoạch xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật thực hiện Nghị quyết số 35/2009/QH12 của Quốc hội. Như vậy, một số chủ trương định hướng đổi mới cơ chế tài chính trong giáo dục sẽ được thực hiện đúng lộ trình, bắt đầu từ năm học 2010-2011 đến năm học 2014-2015.

          3. Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục.           

            Ngày 8 tháng 10 năm 2009, tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khoá XII, Chính phủ trình Quốc hội Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục.

          Nội dung sửa đổi, bổ sung đã tập trung giải quyết một số vấn đề bức xúc hiện nay như: (1) Quy định việc phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi, tạo cơ sở pháp lý để Nhà nước tiếp tục tăng đầu tư có hiệu quả và nâng cao chất lượng giáo dục mầm non nói chung và trẻ em 5 tuổi nói riêng, đặc biệt ở vùng miền núi và các vùng kinh tế, xã hội còn nhiều khó khăn; (2) Bổ sung một số quy định chặt chẽ hơn về việc biên soạn chương trình giáo dục phổ thông và sách giáo khoa; (3) Xác định trách nhiệm của người đứng đầu các cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp phải bảo đảm có đủ giáo trình giảng dạy, học tập; (4) Bổ sung các quy định về yêu cầu công khai tiêu chuẩn chất lượng giáo dục, kiểm định chất lượng giáo dục và xác định rõ nội dung quản lý nhà nước về kiểm định chất lượng giáo dục; (5) Tách bạch hơn điều kiện thành lập nhà trường và điều kiện cho phép hoạt động giáo dục; (6) Nâng cao chất lượng tổ chức và hoạt động giáo dục, tạo hành lang pháp lý cần thiết nhằm đẩy mạnh đổi mới quản lý để nâng cao chất lượng giáo dục; (7) Thực hiện phụ cấp thâm niên cho đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục.

          Ngày 25 tháng 11 năm 2009, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Giáo dục. Luật sẽ có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2010.

         

  

     4. Tổ chức thành công Hội nghị  tổng kết 5 năm thực hiện  Chỉ thị 39-CT/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân điển hình tiên tiến.            

            Ngày 18 tháng 12 năm 2009, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức Hội nghị tổng kết 5 năm thực hiện Chỉ thị 39-CT/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân điển hình tiên tiến, Hội nghị đã khẳng định, trong 5 năm qua (2004-2009) công tác thi đua trong toàn ngành đã có sự chuyển biến về chất, công tác phổ biến, nhân điển hình tiến có bước tiến bộ vượt bậc. Ngành giáo dục là ngành đầu tiên thực hiện nói không với bệnh thành tích thông qua việc triển khai cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” gắn với cuộc vận động “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”; cuộc vận động “Mỗi thầy giáo, cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo” và phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”.

          Ngành đã huy động được 2 Bộ (Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch), 3 đoàn thể (Trung ương Đoàn Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội khuyến học Việt Nam), 3 cấp (trung ương, địa phương và cơ sở) cùng tham gia, từ đó đã tạo được cơ chế xã hội bền vững trong việc giải quyết vấn đề học sinh bỏ học, đổi mới phương pháp dạy học, phát huy tính chủ động, tích cực, sự sáng tạo của học sinh trong học tập và các hoạt động xã hội, tạo môi trường giáo dục lành mạnh, thân thiện, tăng cường giáo dục đạo đức, giáo dục truyền thống, nhờ đó, đã khơi dậy và phát huy mạnh mẽ sức sáng tạo trong dạy và học của giáo viên và học sinh, tạo động lực để đội ngũ cán bộ, giáo viên, công nhân viên, sinh viên, học sinh trong ngành thực hiện tốt nhiệm vụ mà Đảng,Nhà nước và nhân dân giao cho.

            5. Đánh giá kết quả năm đầu tiên triển khai phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”

            Sự  kiện quan trọng này được tổ chức trọng thể vào ngày 22 tháng 8 năm 2009 tại một trong 5 di tích lịch sử văn hoá mà Bộ Giáo dục và Đào tạo hỗ trợ tôn tạo bảo vệ, đó là Đền thờ nhà giáo Chu Văn An (trong quần thể di tích núi Phượng Hoàng, huyện Chí Linh, Hải Dương) với sự tham dự của đại diện 5 Bộ, ngành phối hợp: Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch, Trung ương Đoàn Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội khuyến học Việt Nam và những đơn vị, cá nhân tiêu biểu trong thực hiện phong trào có ý nghĩa này.

          Phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” ngay từ khi triển khai đã được sự đồng tình, hưởng ứng của toàn ngành và toàn xã hội, vì vậy đã tạo nên những chuyển biến rõ nét về quang cảnh trường lớp xanh, sạch, đẹp, an toàn thân thiện, về môi trường giáo dục nhân văn, về chất lượng dạy và học, về giáo dục kỹ năng sống, về gìn giữ và phát huy truyền thống lịch sử văn hoá dân tộc. Kết quả sau một năm triển khai thực hiện đã có 40.637 trường học tham gia phong trào, trong đó có 5.506 trường được chọn chỉ đạo điểm ở các địa phương; các cấp học đã trồng được hơn 2 triệu cây xanh các loại; các trường đã nhận chăm sóc 2.846 bà mẹ Việt Nam anh hùng, gia đình thương binh liệt sĩ và 13.060 di tích lịch sử, văn hoá; sửa chữa hoặc xây mới 36.985 nhà vệ sinh (đạt tỷ lệ 91% trong tổng số các trường học), trong đó có 28.944 nhà vệ sinh đạt chuẩn (đạt tỷ lệ 77%). Các trò chơi dân gian, các bài hát, điệu múa truyền thống được đua vào trong chương trình ngoại khoá ở các nhà trường. Các nội dung hoạt động của phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” ngày càng được nâng cao hơn về chất, đặc biệt là việc phối hợp để thực hiện 3 đủ: “đủ ăn, đủ mặc, đủ sách vở” cho mỗi học sinh, nhờ đó tỷ lệ học sinh bỏ học đã giảm đáng kể. Việc tổ chức Lễ khai giảng với cả phần “Lễ” và phần “Hội” và tổ chức “Lễ tri ân và trưởng thành cho học sinh lớp 12” đã đem lại những nét mới trong hoạt động giáo dục của nhà trường.

          Ngành giáo dục coi phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” là sự cụ thể hoá của phong trào thi đua “Dạy tốt, học tốt” trong giai đoạn hiện nay, là giải pháp đột phá để nâng cao giáo dục toàn diện, đặc biệt là giáo dục đạo đức, nhân cách học sinh với một cơ chế chính trị xã hội đủ mạnh bởi sự tham gia của hai Bộ (Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội) và ba Đoàn thể (Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và Hội Khuyến học Việt Nam).

            6. Triển khai đổi mới phương pháp dạy học bốn môn: Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí và Giáo dục công dân

            Năm 2009, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ Hội thảo về quản lý hoạt động đổi mới phương pháp dạy học ở các trường phổ thông (ngày 03/01/2009 tại Nghệ An); Hội thảo về đổi mới kiểm tra đánh giá thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học các môn Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí (ngày 17, 18/4/2009 tại TP Cần Thơ); Hội thảo đánh giá sâu về chương trình, sách giáo khoa môn Giáo dục công dân (ngày 20, 21/4/2009 tại TP Đà Lạt).

          Qua hội thảo và thực tế khảo sát tại các địa phương cho thấy việc đổi mới phương pháp dạy học tại các cơ sở giáo dục đã đạt được kết quả bước đầu quan trọng, nhiều giáo viên đã sử dụng máy vi tính vào việc thiết kế bài giảng, nhiều phần mềm dạy học đã được ứng dụng; trang thiết bị dạy học, phòng bộ môn, phòng thí nghiệm thực hành được sử dụng đạt hiệu quả cao.

          Các dự án giáo dục cũng tập trung cho vấn đề này bằng những thành phần cụ thể nhằm nâng cao năng lực đổi mới phương pháp dạy học cho giáo viên. Cũng theo xu thế này, các trường sư phạm đã vào cuộc một cách tích cực hơn cùng với việc đổi mới ở trường phổ thông, tiến tới sẽ phải đi trước một bước trong đổi mới phương pháp dạy học.

          7. Tổ chức đánh giá chương trình, sách giáo khoa tiểu học và trung học trên quy mô toàn quốc           

            Tháng 9 năm 2009, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức đánh giá toàn diện chương trình, sách giáo khoa (lần 2) sau 3 năm triển khai thực hiện chương trình, sách giáo khoa mới (lần thứ nhất tổ chức vào tháng 5 năm 2008). Việc đánh giá được thực hiện từ các tổ chuyên môn ở các trường đến các Phòng Giáo dục và Đào tạo và Sở Giáo dục và Đào tạo; đồng thời có sự tham gia đánh giá độc lập của Hội Khuyến học Việt Nam, Hội Cựu Giáo chức Việt Nam, Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam.

          Tiếp thu các ý kiến góp ý, Bộ Giáo dục và  Đào tạo đã rà soát, chỉnh sửa sách giáo khoa; triển khai mục “Góp ý sách giáo khoa” trên trang thông tin điện tử của Bộ; điều chỉnh một số nội dung của chương trình, sách giáo khoa theo hướng giảm tải một số môn học, tích hợp một số nội dung của các môn học và hoạt động giáo dục để giảm khối lượng kiến thức và thời gian dạy học; điều chỉnh về cách thức kiểm tra, đánh giá.

          Bộ  đã biên soạn và ban hành tài liệu Hướng dẫn dạy học theo chuẩn kiến thức kỹ năng trong chương trình giáo dục phổ thông nhằm giúp giáo viên định hướng đúng nội dung giảng dạy của các môn học, trên cơ sở đảm bảo các yêu cầu tối thiểu, có thể nâng cao ở mức phù hợp với năng lực nhận thức của các học sinh khá, giỏi. Các nhà trường đã căn cứ vào hướng dẫn nói trên để tổ chức giảng dạy bám sát chuẩn kiến thức, kỹ năng được qui định trong chương trình giáo dục phổ thông; bảo đảm cân đối giữa yêu cầu trang bị kiến thức với việc rèn luyện kỹ năng và giáo dục thái độ cho học sinh; hướng dẫn học sinh vận dụng kiến thức đã học để giải quyết các vấn đề thực tiễn.

          Tài liệu này hướng dẫn này đã được triển khai ngay trong học kỳ I năm học 2009-2010 và được các cơ sở đánh giá là có tác dụng tốt trong đổi mới phương pháp dạy học.

          8. Ban hành Chương trình giáo dục mầm non mới và xây dựng xong Đề án Phổ cập mẫu giáo cho trẻ 5 tuổi

            Trên cơ sở nghiên cứu, xem xét nội dung các chương trình giáo dục mầm non đã được ban hành, căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế, xã hội của các địa phương, các vùng miền khác nhau, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xây dựng chương trình giáo dục mầm non mới và ngày 25 tháng 7 năm 2009 Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ký Thông tư số 17/2009/TT-BGDĐT Ban hành Chương trình Giáo dục mầm non. Chương trình mới này kế thừa những ưu điểm của các chương trình giáo dục mầm non đã ban hành; là chương trình khung, mang tính định hướng và mở, tạo điều kiện cho các địa phương chủ động trong việc xây dựng kế hoạch giáo dục phù hợp với đặc điểm vùng miền. Đối với những địa phương có điều kiện về đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất sẽ thực hiện Chương trình Giáo dục mầm non mới bắt đầu từ năm học 2009-2010; ở những nơi chưa đủ điều kiện thì tiếp tục triển khai Chương trình chăm sóc giáo dục trẻ và Chương trình 26 tuần cho trẻ 5 tuổi. Trong 3 năm tới, Chương trình Giáo dục mầm non mới sẽ được thực hiện đại trà ở tất cả các cơ sở giáo dục mầm non trong cả nước.

          Trong năm 2009, Bộ đã xây dựng xong Đề án Phổ cập mẫu giáo cho trẻ 5 tuổi. Mục tiêu của Đề án là đảm bảo hầu hết trẻ em 5 tuổi ở mọi vùng miền được tới lớp để thực hiện chăm sóc, giáo dục 2 buổi/ngày đủ một năm học, nhằm chuẩn bị tốt nhất về mặt thể lực, sẵn sàng về tâm lí, chuẩn bị tiếng Việt, đảm bảo chất lượng nhập học phổ thông.

          9. Lần đầu tiên Thủ tướng Chính phủ đến dự và chỉ đạo Hội nghị Tổng kết năm học khối giáo dục đại học: Đổi mới quản lý nhà nước là giải pháp đột phá để đổi mới giáo dục đại học.

            Hội nghị Tổng kết khối giáo dục đại học năm học 2008-2009 được tổ chức tháng 8 năm 2009 tại Hội Nội, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã đến dự và chủ trì Hội nghị. Phát biểu tại Hội nghị, Thủ tướng đánh giá cao sự đóng góp của ngành giáo dục và đào tạo, đặc biệt là giáo dục đại học trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao; đồng thời mong muốn giáo dục đại học, trước yêu cầu mới, không dừng lại, không thỏa mãn mà phải nỗ lực để đáp ứng được nhu cầu phát triển nhanh, toàn diện của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Thủ tướng đã chỉ đạo đổi mới quản lý nhà nước là giải pháp đột phá để đổi mới giáo dục đại học.

          Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Nghị quyết của Ban Cán sự Đảng Bộ Giáo dục và Đào tạo về đổi mới quản lý giáo dục đại học giai đoạn 2009-2012 và Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết của Ban Cán sự Đảng; triển khai thực hiện 3 công khai theo Thông tư số 09/2009/TT-BGDĐT ngày 07 tháng 5 năm 2009 (công khai cam kết chất lượng giáo dục và chất lượng giáo dục thực tế được đánh giá, công khai các nguồn lực, công khai tài chính của cơ sở giáo dục); đổi mới trong công tác tuyển sinh; đổi mới cơ chế tài chính, tăng cường tự chủ tự chịu trách nhiệm của nhà trường; xây dựng thư viện giáo trình điện tử; tăng cường đào tạo theo nhu cầu xã hội. Bộ cũng sẽ xây dựng quy chế qui định rõ trách nhiệm của cấp Bộ (Bộ Giáo dục và Đào tạo và các Bộ ngành liên quan), Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố có trường đại học, cao đẳng và bản thân các trường đại học, cao đẳng.

          Ngày 29 tháng 10 năm 2009, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã báo cáo Thủ tướng Chính phủ về Sự phát triển của hệ thống giáo dục đại học, các giải pháp đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo.

          10. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động của ngành

            Ngày  01 tháng 6 năm 2009, Thủ tướng Chính Phủ đã ra Quyết định số 698/QĐ-TTg về việc Phê duyệt Kế hoạch tổng thể phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020. Đây là yếu tố then chốt có ý nghĩa quyết định đối với việc phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin trong toàn ngành.

          Thực hiện đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức tập huấn cho hơn 5.000 cán bộ quản lý cơ sở giáo dục và giáo viên của 35 Sở Giáo dục và Đào tạo; ký kết thỏa thuận hợp tác với Tập đoàn Intel triển khai Chương trình giáo dục điện tử; phối hợp với Tổng công ty Viễn thông Quân đội Viettel tài trợ miễn phí việc kết nối Internet băng thông rộng, thiết bị kết nối và thuê bao hàng tháng tới tất cả các trường phổ thông, mầm non, các phòng giáo dục và đào tạo, các trung tâm giáo dục thường xuyên và trung tâm giáo dục cộng đồng (giá trị hỗ trợ khoảng 330 tỷ/năm). Đến nay, có khoảng 25.000 trường phổ thông và mầm non (chiếm 64%) trong tổng số 39.000 trường được kết nối và sử dụng Internet miễn phí. Với thành tựu này Việt Nam là một trong số ít nước trên thế giới sẽ nối mạng và cho truy cập Internet miễn phí cho tất cả các cơ sở giáo dục mầm non và phổ thông.

          Bộ  cũng đã triển khai hệ thống phần mềm hỗ trợ xếp thời khóa biểu cho các trường phổ thông của 35 tỉnh, thành; cung cấp cho toàn ngành các phần mềm quản lý học sinh; xây dựng hệ thống họp và đào tạo qua mạng; phát động cuộc thi thiết kế bài giảng điện tử e-Learning trên phạm vi toàn quốc. Bộ đã thực hiện đề án các trường tham gia xây dựng thư viện giáo trình điện tử dùng chung, đến nay đã có trên 1.100 giáo trình trên mạng để giảng viên và sinh viên sử dụng, đã có trên 13 triệu lượt người truy cập.

           

            11. Việt Nam đăng cai và tổ chức thành công Hội nghị Bộ trưởng Giáo dục các nước Á- Âu lần thứ 2 (ASEMME2)

            Trong hai ngày 14 và 15 tháng 5 năm 2009 tại Hà Nội đã diễn ra Hội nghị Bộ trưởng Giáo dục các nước Á- Âu lần thứ 2 (ASEMME2) với khẩu hiệu: “Chia sẻ kinh nghiệm và những bài học thực tiễn về giáo dục đại học giữa các quốc gia ASEM”. Hội nghị đã nhận được sự quan tâm và tham dự của 177 đại biểu quốc tế đến từ 37 quốc gia thành viên và 6 tổ chức quốc tế có liên quan và hơn 100 đại biểu Việt Nam. Thủ tướng Chính phủ Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đã tham dự khai mạc, phát biểu và chỉ đạo Hội nghị.

          Hội nghị ASEMME2 tại Việt Nam được các đại biểu quốc tế đánh giá là thành công vượt bậc, thể hiện: (1) Quy mô, số lượng đại biểu tham dự đông đảo (43 đoàn tham dự ASEMME 2 so với 29 đoàn tại Hội nghị lần thứ 1 tại Đức); (2) Cách thức tổ chức, tiếp đón đại biểu trọng thị, chu đáo của nước chủ nhà; (3) Nội dung Hội nghị rất cụ thể, sâu sắc và có ý nghĩa quan trọng đối với việc thúc đẩy hợp tác Á- Âu về giáo dục; (4) Đặc biệt, từ ý tưởng đề xuất của nước chủ nhà Việt Nam, Hội nghị đã thảo luận và nhất trí cao việc thành lập Ban thư ký ASEM về giáo dục, dự kiến bắt đầu triển khai vào năm 2010.

 

 

 

 

 

            12. Hội nghị Hội đồng giáo giới các nước ASEAN lần thứ 25

            Hội nghị Hội đồng giáo giới các nước ASEAN lần thứ 25 được tổ chức tại Hà Nội vào ngày 11 và 12 tháng 12 năm 2009, do Công đoàn Giáo dục Việt Nam đăng cai tổ chức, tới dự có các đại biểu là Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam; 10 nước trong Hội đồng giáo giới ASEAN với 278 đại biểu tham dự; về phía nước chủ nhà có gần 300 đại biểu là Giám đốc, Chủ tịch Công đoàn Giáo dục các tỉnh, thành phố, các trường đại học, cao đẳng và đơn vị trực thuộc.

          Trong bối cảnh tình hình khu vực và quốc tế đang suy thoái kinh tế ảnh hưởng đến phát triển giáo dục, Hội đồng giáo giới ASEAN đã khẳng định quyết tâm tiếp tục đẩy mạnh hợp tác, phối hợp hành động nhiều mặt, ứng phó với suy thoái kinh tế toàn cầu nhằm đảm bảo phát triển bền vững giáo dục. Đồng thời cam kết đẩy nhanh quá trình liên kết nội khối, đưa hiến chương ASEAN vào cuộc sống, thực hiện lộ trình xây dựng cộng đồng ASEAN vào năm 2015, hướng tới một cộng đồng năng động, hiệu quả, đặc biệt tăng cường hợp tác giáo dục đào tạo nguồn nhân lực. Kết quả Hội nghị đã góp phần nâng cao vị trí của giáo dục Việt Nam trong các nước ASEAN.

                            _____________________________

——————————————————————————

PHÒNG GD-ĐT ĐẠ HUOAI          CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

 TRƯỜNG TIỂU HỌC HÀ LÂM                  Độc lập – Tự do – Hạnh phúc  

THAM LUẬN

HOẠT ĐỘNG NGOÀI GIỜ LÊN LỚP,

GẮN GIÁO DỤC NHÀ TRƯỜNG VỚI CỘNG ĐỒNG,

XÂY DỰNG  “ TRƯỜNG HỌC THÂN THIỆN-HỌC SINH TÍCH CỰC”

  1. I.             ĐẶT VẤN ĐỀ :

1. Tầm quan trọng của các hoạt động ngoài  giờ lên lớp:

 

Giáo dục là quá trình kết hợp vai trò chủ đạo cuả giáo viên với sự tự giác tích cực, tự rèn luyện cuả học sinh nhằm hình thành ý thức , tính cách và chủ yếu là hành vi thói quen đạo đức với các chuẩn mực xã hội quy định. Nhân cách học sinh được hình thành qua hai con đường cơ bản: Con đường dạy học trên lớp và con đường hoạt động ngoài giờ lên lớp.

Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là một hoạt động quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, thực hiện mục tiêu  giáo dục cuả nhà trường. Chính từ những hoạt động như: lao động, sinh hoạt tập thể, hoạt động xã hội đã góp phần rất lớn trong việc hình thành nhân cách cuả học sinh. Giúp các em biết tự giáo dục, tự rèn luyện, tự hoàn thiện mình . Có thể nói việc tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp là xây dựng cho các em các mối quan hệ phong phú, đa dạng, một cách có mục đích, có kế hoạch có nội dung và phương pháp nhất định, gắn giáo dục với cộng đồng, tạo sự thân thiện trong mọi tình huống. Biến các nhu cầu khách quan cuả xã hội thành những nhu cầu cuả bản thân học sinh.

Nhân cách trẻ được hình thành và phát triển thông qua các hoạt động có ý thức. Chính trong quá trình sồng, học tập, lao động, giao lưu, vui chơi giải trí… con người đã tự hình thành và phát triển nhân cách cuả mình. Vì thế, hoạt động ngoài giờ lên lớp có liên quan đến việc mở rộng kiến thức, tư tưởng, tình cảm , năng lực nâng cao thể lực, thể chất và tinh thần của học sinh. Do vậy , cần thiết phải kết hợp việc học tập trên lớp với việc rèn luyện kĩ năng thực hành, giúp học sinh hiểu sâu hơn và nắm bản chất cuả sự vật hiện tượng, tạo niềm tin và óc sáng tạo cho học sinh , giải quyết mối quan hệ giữa học và chơi- chơi và học nhằm đáp ứng nhu cầu tâm lý lứa tuổi học sinh tiểu học.  

     Hoạt động Ngoài giờ lên lớp được quy định cụ thể tại Điều lệ trường tiểu học ban hành kèm theo Quyết định  51/2007/QĐ-BGDĐT  ngày 31 tháng 8 năm 2007của Bộ GD-ĐT, tại Điều 26 đã chỉ rõ : “Hoạt động giáo dục bao gồm hoạt động trên lớp và hoạt động ngoài giờ lên lớp nhằm rèn luyện đạo đức, phát triển năng lực, bồi dư­ỡng năng khiếu, giúp đỡ học sinh yếu kém phù hợp đặc điểm tâm lý, sinh lý lứa tuổi học sinh tiểu học. Hoạt động giáo dục trên lớp đ­ược tiến hành thông qua việc dạy học các môn học bắt buộc và tự chọn. Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp bao gồm hoạt động ngoại khoá, hoạt động vui chơi, thể dục thể thao, tham quan du lịch, giao lưu văn hoá; hoạt động bảo vệ môi trường; lao động công ích và các hoạt động xã hội khác”.

2. Thực trạng hoạt động giáo dục hoạt động ngoài giờ lên lớp ở các trường tiểu học hiện nay:

 

Hoạt động ngoài giờ lên lớp ở tiểu học trong những năm qua đã có nhiều sự chuyển biến rõ nét, đã được các cấp quản lý giáo dục, các trường, đội ngũ giáo viên cũng như cộng đồng quan tâm và có các giải pháp tích cực nhằm nâng cao chất lượng hoạt động. Hệ thống văn bản chỉ đạo cũng đã đề cập nhiều đến việc tổ chức Hoạt động ngoài giờ lên lớp, đặc biệt là khi Bộ GD-ĐT phát động phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” thì  việc đầu tư cho Hoạt động ngoài giờ, việc gắn giáo dục với cộng đồng đã được chú trọng nhiều hơn. 

Song bên cạnh đó, với tình hình hiện nay nội dung hoạt động ngoài giờ lên lớp chưa thực sự đáp ứng nhu cầu thực tế , chương trình còn đơn điệu, cứng nhắc.

Vẫn còn Cán bộ quản lý nhà trường và giáo viên  chưa thực sự quan tâm hoặc chưa quan tâm đúng mức đến hoạt động Ngoài giờ lên lớp, gần như cho rằng đó là nhiệm vụ , là hoạt động cuả tổ chức đoàn thể  nhất là Chi đoàn và Tổng phụ trách Đội .

Việc định hướng nội dung, hình thức về hoạt động ngoài giờ lên lớp ở một số trường chưa có sự sáng tạo, hầu như vẫn còn lệ thuộc nhiều vào sự chi phối của công văn 811/CV-SGD ngày 23/8/2004 v/v hướng dẫn hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở bậc Tiểu học. Lãnh đạo một số trường chưa có biện pháp cụ thể, năng lực tổ chức hoạt động ngoài giờ còn của một số giáo viên vẫn còn hạn  chế.

Khá nhiều giáo viên thường dành thời gian của Hoạt động ngoài giờ lên lớp để ôn kiến thức,kĩ năng , giải quyết các phần việc về lĩnh vực dạy học . Nhiều trường ít chú ý đầu tư thời gian cho HĐNGLL bởi thường mất nhiều thời gian, nếu tổ chức không tốt không những không mang lại lợi ích gì mà còn ảnh hưởng chất lượng hoạt động dạy và học trên lớp, tốn kém kinh phí mà không có nguồn tài chính hỗ trợ , có quan điểm còn cho đây là họat động vui chơi nên không quan trọng, không cần thiết.

Nhìn chung, hoạt động NGLL vẫn còn chưa phát huy được hết ý nghĩa thực chất của nó đối với việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chưa thực sự được các cấp quản lý và giáo viên đầu tư đúng nghĩa. Trong toàn ngành thực hiện chưa được đồng bộ thống nhất , chưa có chiều sâu.

II.  GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

Đế nâng cao chất lượng hoạt động ngoài giờ lên lớp trong nhà trường, gắn giáo dục nhà trường với cộng đồng, xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực,  đơn vị đã thực hiện một số giải pháp sau:

1.   Quán triệt nhận thức :

-      Bản thân Hiệu trưởng phải có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng cuả hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp và đưa nội dung hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp vào kế hoạch năm học cụ thể, tránh qua loa vài dòng chung chung.

-      Đưa kế hoạch hoạt động  ra bàn bạc thống nhất trong đội ngũ cán bộ cốt cán rồi triển khai trong hội đồng sư phạm cùng với kế hoạch năm học. Nhằm :

+  Thống nhất nội dung hoạt động.

+  Bàn biện pháp thực hiện tích cực.

+  Từng bộ phận có kế hoạch cụ thể.

  1. 2.   Thực hiện nghiêm túc hướng dẫn của Sở GD-ĐT Lâm Đồng và các cấp quản lý GD:

-       Tiếp tục quán triệt tinh thần công văn 811/CV-SGD ngày 23/8/2004 v/v hướng dẫn hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở bậc Tiểu học của Sở GD-ĐT Lâm Đồng.

-       Xây dựng cụ thể chương trình NGLL phù hợp với tình hình của trường và của địa phương trên cơ sở hướng dẫn của Sở GD-ĐT.

-       Giao cho tổ trưởng chuyên môn thống nhất trong tổ nội dung, bài dạy theo thực tế, thống nhất trước khi vào năm học mới.

-       Lồng ghép chương trình vào nội dung sinh hoạt Sao Đội và chào cờ đầu tuần của Liên Đội.

  1. 3.   Xây dựng kế hoạch, phân công phân nhiệm đảm bảo:

-       Căn cứ hướng dẫn về hoạt động NGLL của Sở GD-ĐT, nhà trường xây dựng chương trình và nội dung phù hợp để triển khai thực hiện.

-       Xây dựng ngay từ đầu năm học  chương trình, lịch trình các hoạt động lớn, các hội thi liên quan đến học sinh.

-       Phân công cụ thể , phối kết hợp phân công cho từng thành viên trong nhà trường thực hiện các nội dung NGLL :

+ GVCN : Thực hiện nội dung chương trình, giảng dạy ATGT, đôn đốc,  hướng dẫn Hs tham gia các hoạt động lớn.

+ TPT Đội : nghiên cứu ,lồng ghép phù hợp chương trình vào các buổi sinh hoạt Sao Đội và Chào cờ đầu tuần. Tổ chức các hội thi như : văn nghệ, thể dục thể thao, trò chơi dân gian, các hội thi vẽ tranh theo các chủ đề, viết thư UPU, Kể chuyện về tấm gương đạo dức Hồ Chí Minh tại buổi tiết chào cờ đầu tuần,Hội thi nghi thức Đội, các hoạt động thi ứng xử tình huống giao tiếp trong Đội viên , hoạt động đóng kịch, xây dựng tiểu phẩm theo chủ đề tại các tiết chào cờ…

+Chi Đoàn nhà trường : Hỗ trợ đắc lực cho Đội TNTP trong việc tổ chức các chương trình hoạt động.

+ Cán bộ thư viện : Trực tiếp tổ chức hội thi tìm hiểu qua Sách, báo, tài liệu ở thư viện thông qua các hội thi tìm hiểu theo Chủ điểm. Hàng tháng có thi, phát thưởng và  tổng kết kịp thời. Các chủ điểm bám theo các ngày lễ lớn trong tháng và theo chủ điểm của chương trình NGLL.

  1. 4.    Kết hợp hài hòa trong việc thực hiện các phong trào thi đua:

-       Ngoài việc quy định bắt buộc về thực hiện chương trình thì các nội dung hoạt động NGLL được đánh giá qua các đợt thi đua trong năm học của nhà trường.

-       Hàng tháng, nhà trường tuyên dương học sinh xuất sắc trong tháng , mỗi lớp 01 học sinh có thành tích cao trong hoạt động xây dựng tập thể lớp, do tập thể HS trong lớp bình chọn.

-       Thực hiện tốt phong traò “Hoa điểm 10” , “Tiết học tốt” “Tiết dạy tốt”… trong học sinh và giáo viên.

-       Mỗi lớp có bản tự đăng ký xây dựng lớp học, trường học thân thiện, học sinh tích cực phù hợp với tình hình của lớp, được tập thể HS bàn bạc, thống nhất đăng ký từ đầu năm.

-       Phong trào thi đua Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực được triển khai rộng rãi trong CB-GV-NV, HS và CMHS.

  1. 5.   Tổ chức các hoạt động mang tính tập thể cao:

-       Nhà trường kết hợp với  Đội TNTP, Đoàn thanh niên, Ban văn thể mĩ xác định ngay từ đầu năm các hoạt động lớn, hội thi lớn để Mỗi một lớp, mỗi một GV xác định và thực hiện, cụ thể: Tháng 8,9 : Các hoạt động về nghi thức Đội chuẩn bị cho diễu hành trong lễ Khai giảng. Tháng 10, 11 Các hoạt động Văn nghệ, chuẩn bị cho văn nghệ chào mừng 20/11. Tháng 12 :tổ chức các hoạt động tìm hiểu về Anh bộ đội Cụ Hồ; Tháng 1,2 Các hoạt động về thi nghi thức Đội, trò chơi dân gian thực hiện hướng về chủ đề Mừng Đảng, mừng Xuân. Tháng 3, 4: Tập trung các hoạt động thể thao, bóng đá, trò chơi dân gian chuẩn bị cho sân chơi mùa hè.

-        Thông qua các hoạt động lớn là việc tìm hiểu  nội dung , chủ đề theo chương trình hoạt động ngoài giờ lên lớp và giáo dục rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh.

  1. 6.   Đẩy mạnh công tác hướng về cộng đồng:

-       Thực hiện công tác cùng tuyên truyền về An toàn giao thông thông qua hoạt động mít tinh, cổ động tháng an toàn giao thông.

-       Thực hiện công tác giữ gìn vệ sinh cảnh quan, tuyên truyền với mọi người về giữ gìn vệ sinh chung như: 5 phút nhặt rác, bỏ rác đúng quy định, chăm sóc cây cảnh, công trình măng non…

-       Công tác hỗ trợ ủng hộ các bạn nghèo, các bạn ở vùng sâu, vùng xa với phong trào tương thân, tương ái : Hỗ trợ Bạn nghèo đủ các điều kiện đến lớp, Tết vì bạn nghèo, ủng hộ trường vùng khó.

-       Thực hiện tốt việc nhận chăm sóc gia đình chính sách: các đoàn thể trong nhà trường cùng hướng dẫn Đội TNTP thực hiện nhận chăm sóc , thăm hỏi các gia đình chính sách, tặng quà nhân các ngày  Lễ, Tết, 27/7… Qua đó giáo dục học sinh về truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”.

  1. 7.   Đầu tư các điều kiện cho tổ chức các hoạt động NGLL:

-       Sân chơi là yếu tố quan trọng, đầu tư sân chơi sạch sẽ, thoáng, đủ cho học sinh chơi, hàng năm bổ sung đầu tư bê tông háo sân chơi.

-       Các dụng cụ phục vụ cho các trò chơi dân gian được đầu tư mua sắm đủ để phục vụ các trò chơi.

-       Âm ly, loa máy, các dụng cụ phục vụ tuyên truyền, hướng dẫn học sinh được mua sắm, phục vụ tốt cho hoạt động NGLL.

-       Sách tham khảo, truyện đọc được mua mới, vận động quyên góp và luân chuyển sách trong huyện đảm bảo đủ cho hoạt động đọc, tìm hiểu của GV và HS.

-       Báo Đội, báo thiếu nhi dân tộc được nhà trường đặt mua đủ, phục vụ cho nhu cầu đọc và nghiên cứu.

  1. 8.   Phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các lực lượng trong và ngoài nhà trường:

-       Thực hiện kế hoạch phối hợp liên ngành giữa đơn vị với các ban ngành ,đoàn thể tại địa phương để làm tốt công tác giáo dục. Cụ thể:

     + Phối hợp với Xã Đoàn , Ban văn hoá xã trong công tác tổ chức các hoạt động lớn như Văn nghệ, thể dục thể thao, sân chơi hè cho học sinh.

     + Phối hợp với Cựu chiến binh thực hiện nội dung giaó dục truyền thống cho HS nhân các buổi lễ. Chăm sóc gia đình Thương binh, liệt sĩ, gia đình có công.

-       Các đoàn thể trong nhà trường thực hiện tốt công tác phối hợp, đặc biệt là chủ động trong các hoạt động bề nổi, các hoạt động lớn của nhà trường.

-       Ban đại diện cha mẹ học sinh của trường có những giải pháp tích cực, đóng góp công sức và tiền của vào các hoạt động giáo dục chung, đặc biệt là hỗ trợ khen thưởng, huy động sự đóng góp của các mạnh thường quân.

  1. III.      KẾT QUẢ:
  2. Chương trình hoạt động NGLL được tập thể CB-GV trong trường thực hiện nghiêm túc, chất lượng giáo dục được nâng lên nhờ có sự bổ trợ của GD NGLL, ý thức trách nhiệm của CB-GV được nâng lên.
  3. Chất lượng của các hoạt động phong trào được thể hiện rõ nét, học sinh hăng hái ,tích cực tham gia hoạt động tập thể, mạnh dạn trong giao tiếp, thân thiện trong cư xử, đội ngũ Gv có trách nhiệm cao đối với  công tác GDNGLL. Các hoạt động phong trào đi vào nề nếp và có chất lượng.
  4. Chất lượng của Hoạt động Sao Đội được đánh giá cao,nhiều năm liền Liên đội trường tiểu học Hà Lâm Đạt Liên Đội Mạnh cấp tỉnh. Chất lượng sinh hoạt hè đạt Tốt. Những phong trào lớn như văn nghệ, thể thao trong học sinh đều đạt các giải cấp huyện, tham gia thi cấp tỉnh.
  5. Chất lượng giáo dục toàn diện được củng cố và duy trì ở mức độ tốt, hai năm liền đạt trường tiên tiến xuất sắc, năm học 2008-2009 đạt Xuất sắc trong phong trào thi đua “Trường  học thân thiện, học sinh tích cực”.

 

  1. IV.       BÀI HỌC KINH NGHIỆM
  2. Đội ngũ , trước hết là Hiệu trưởng quán triệt tầm quan trọng và ảnh hưởng tích cực của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp trong nhiệm vụ dạy và học trong nhà trường . Quán triệt đầy đủ các văn bản liên quan đến HĐNGLL. Đội ngũ Giáo viên cần có trách nhiệm cao với công việc, đề xuất kịp thời với hiệu trưởng biểu dương kịp thời những hcọ sinh có thành tích xuất sắc trong việc thực hiện hoạt động NGLL.
  3. Hiệu trưởng xây dựng được kế hoạch hoạt động ngoài giờ lên lớp xuyên suốt năm học , cụ thể , có mục đích rõ ràng với từng hoạt động , thể hiện rõ kế hoạch thời gian .
  4. Là hoạt động có tính tập thể cao nên hiệu trưởng phải tích cực chỉ đạo các hình thức hoạt động phong phú , nội dung sao cho quá trình hoạt động diễn ra phải có mối quan hệ thầy trò , thu hút được mọi người , mọi đoàn thể tham gia .
  5. Muốn tạo được hiệu quả , hoạt động giáo dục ngoài giờ  lên lớp phải  việc tổ chức thường xuyên , phải có mục đích xuất phát từ nhiệm vụ năm học , gắn liền với nội dung dạy trên lớp , gắn với chủ đề năm học,  nội dung hoạt động Đội . Không coi hoạt động này chỉ là hoạt động vui chơi giải trí đơn thuần làm mất thời gian hoặc chạy theo hình thức .
  6. Tuyên truyền kịp thời với CMHS về tác dụng, tầm quan trọng của HĐ NGLL để CMHS tạo điều kiện cho con em tham gia các hoạt động tập thể lớn.
  7. Hiệu trưởng cần bồi dưỡng lượng trẻ , lực lượng đoàn viên thanh niên làm nồng cốt trong các hoạt động và tiếp tục kế thừa , phát triển các thành quả của trường .
  8. Hình thức hoạt động phải mang tính giáo dục nhẹ nhàng , vui tươi phong phú.
  9. Kinh phí : Phát huy vai trò hỗ trợ  cha mẹ học sinh ở các chi hội các lớp , phát huy nguồn lực từ cha mẹ học sinh cùng với việc chi ngân sách thường xuyên theo quy định cho các hoạt động phong trào .
  10. V.   ĐỀ XUẤT- KIẾN NGHỊ ĐỂ THỰC HIỆN HOẠT ĐỘNG NGOÀI GIỜ LÊN LỚP MANG TÍNH BỀN VỮNG:

1.  Đối với lãnh đạo ngành giáo dục các cấp:

-  Có giải pháp biên soạn nội dung chương trình ngoài giờ lên lớp theo hướng mở, đa dạng về nội dung, phong phú về hình thức, phù hợp với tình hình thực tế của địa phương.

-  Chỉ đạo dứt điểm về mặt giao chương trình, nội dung cho giáo viên, tránh tình trạng vừa giao chương trình cho GV vừa yêu cầu lồng ghép với hoạt động tập thể và các môn nghệ thuật vừa giao cho Tổng phụ trách Đội lồng ghép  dẫn đến khó khăn cho các trường bố trí tiết dạy.

- Tách giảng dạy An toàn giao thông ra nội dung riêng ngoài hoạt động NGLL. Có giải pháp tăng nội dung giáo dục về kỹ năng sống cho học sinh.

- Tập huấn cho đội ngũ giáo viên về HĐ NGLL, các kỹ năng sinh hoạt tập thể cho GV  theo từng giai đoạn.

2. Đối với Các nhà trường:

- Quán triệt kỹ tinh thần nội dung, chương trình hoạt động NGLL cho đội ngũ.

- Xây dựng nội dung phù hợp với tình hình đơn vị.

- Có các giải pháp thiết thực để tổ chức các hoạt động tập thể lớn nhằm bổ trợ cho hoạt động NGLL.

- Có những giải pháp thiết thực hỗ trợ kinh phí cho hoạt động NGLL.

Tóm lại : Việc tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp trong trường tiểu học hiện nay không ngoài mục đích nâng cao chất lượng gaió dục toàn diện , đạt được những điều mà quan điểm giáo dục cuả Đảng đã đề ra cho ngành giáo dục. Mỗi một cán bộ quản lý, nhất là Hiệu trưởng cần có nhận thức đầy đủ đúng mức tầm quan trọng của HĐ NGLL trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị trong nhà trường , nhiệm vụ dạy và học mới có thể khắc phục các khó khăn  để  tổ chức hoạt động ngoài giờ lên lớp có hiệu quả .

Trên đây là Tham luận hoạt động ngoài giờ lên lớp, gắn giáo dục nhà trường với cộng đồng, xây dựng  “ Trường học thân thiện-học sinh tích cực” năm học 2009-2010 của Trường tiểu học Hà Lâm.

Đơn vị rất mong nhận được sự quan tâm, đóng góp ý kiến của các cấp lãnh đạo ngành giaó dục, của các chuyên viên bậc học và đặc biệt là quý thầy cô giaó là cán bộ qiuản lý các đơn vị trường tiểu học và phổ thông nhiều cấp học trên địa bàn ba huyện Đạ Huoai, Đạ Tẻh, Cát Tiên để tham luận được hoàn thiện, góp phần mang lại hiệu quả cao hơn trong quá trình vận dụng thực hiện trong năm học 2009-2010 và những năm tiếp theo.

HIỆU TRƯỞNG

                                                                                                          Nguyễn Sỹ Hùng

——————————————————————————

Bài viết thầy Nguyễn Quang Huy gửi cộng tác

Khái quát về 10 đặc điểm nổi bật của người Việt Nam:
1. Cần cù lao động, song dễ thoả mãn, tâm lý hưởng thụ còn nặng
2. Thông minh, sáng tạo, song chỉ có tính chất đối phó, thiếu tư duy dài hạn, chủ động

3. Khéo léo, song không duy trì đến cùng (ít quan tâm đến sự hoàn thiện cuối cùng của sản phẩm)
4. Vừa thực tế, vừa mơ mộng, song lại không có ý tưởng nâng lên thành lý luận

5. Ham học hỏi, có khả năng tiếp thu nhanh, song ít khi học “đến đầu đến đuôi” nên kiến thức không hệ thống, mất cơ bản. Ngoài ra, học tập không phải là mục tiêu tự thân của mỗi người Việt Nam (nhỏ học vì gia đình, lớn lên học vì sĩ diện vì công ăn việc làm, ít chí khí, đam mê)

6. Xởi lởi, chiều khách, song không bền

7. Tiết kiệm, song nhiều khi hoang phí vì những mục tiêu vô bổ (sĩ diện, khoe khoang, thích học đòi)

8. Có tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái song hầu như chỉ trong những hoàn cảnh, trường hợp khó khăn, bần hàn, còn trong những điều kiện sống tốt hơn, giàu có hơn thì tinh thần này rất ít xuất hiện

9. Yêu hoà bình, nhẫn nhịn song nhiều khi lại hiếu chiến, hiếu thắng vì những lý do tự ái, lặt vặt

10. Thích tụ tập nhưng lại thiếu tính liên kết để tạo ra sức mạnh (cùng 1 việc: 1 người làm thì tốt, 3 người làm thì kém, 7 người làm thì hỏng)

                        Nguyễn Quang Huy
          Trường TH Sơn Công- Ứng Hoà- Hà Nội

———————————————————————–

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO    CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM 

  Số   7975 /BGDĐT-GDTH                     Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

V/v: Hướng dẫn dạy học môn                              Hà Nội, ngày 10 tháng  9  năm 2009

Thủ công, Kĩ thuật Tiểu học.

 

Kính gửi : Ông (bà) Giám đốc các Sở Giáo dục và Đào tạo

Thực hiện chỉ đạo của Bộ trưởng về việc đánh giá sâu môn Thủ công, Kĩ thuật ở Tiểu học, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã lấy ý kiến của 63 tỉnh, thành phố trên toàn quốc ; trực tiếp khảo sát cán bộ quản lí, giáo viên, phụ huynh, học sinh 8 tỉnh đại diện cho các vùng miền và tổ chức Hội thảo đánh giá chất lượng, hiệu quả dạy học môn Thủ công, Kĩ thuật.

Tổng hợp báo cáo của các địa phương, kết quả khảo sát trực tiếp và ý kiến của đại biểu tại Hội thảo, Bộ Giáo dục và Đào tạo đánh giá thực trạng dạy học và hướng dẫn điều chỉnh nội dung, kế hoạch dạy học môn Thủ công, Kĩ thuật ở tiểu học như sau :

I. Thực trạng dạy học môn Thủ công, Kĩ thuật ở Tiểu học

1. Mục tiêu

Mục tiêu của môn Thủ công, Kĩ thuật ở tiểu học đúng đắn, phù hợp, góp phần đạt mục tiêu chung của giáo dục tiểu học.

Môn học giúp học sinh biết cách sử dụng một số dụng cụ lao động đơn giản ; biết mục đích, cách tiến hành một số công việc lao động đơn giản trong gia đình ; rèn luyện tính cẩn thận, kiên trì, sự khéo léo của đôi tay. Từ đó,  hình thành cho học sinh lòng yêu lao động, quý sản phẩm lao động.

          2. Nội dung chương trình dạy học

Chương trình môn Thủ công, Kĩ thuật khá hợp lí. Các mạch kiến thức hệ thống, đảm bảo sự cân đối hài hòa giữa trang bị kiến thức, rèn luyện kĩ năng và hình thành thái độ tích cực cho học sinh tiểu học. 

Tuy nhiên, nội dung và thứ tự dạy học ở một số bài học chưa phù hợp với mọi đối tượng học sinh và điều kiện thực tế của các vùng miền.  

Ví dụ: Nội dung Thêu chưa phù hợp với học sinh nam. Nội dung Trồng rau, hoa khó thực hiện với học sinh thành phố, thị trấn, nơi không có đất đai, vườn trường. Nội dung Nuôi gà phù hợp với học sinh nông thôn, miền núi nhưng chưa phù hợp với học sinh vùng thành phố, thị xã.

3. Phương pháp dạy học

     Giáo viên đó có nhiều cố gắng đổi mới phương pháp dạy học. Tuy nhiên, nhiều giáo viên lệ thuộc vào hướng dẫn trong sách giáo viên, chưa linh hoạt, mạnh dạn đổi mới việc tổ chức dạy học phù hợp với đối tượng học sinh và hoàn cảnh địa phương.

 Một số giáo viên chưa thực sự quan tâm đến đổi mới phương pháp dạy học, ít có sự đầu tư cho bài dạy, chưa nắm vững các thao tác của quy trình làm sản phẩm nên đã hướng dẫn học sinh thực hành phức tạp, khó hiểu dẫn đến học sinh không nắm được quy trình và cách làm ra sản phẩm.

  4. Kiểm tra, đánh giá

Tuy đã có nhiều đổi mới trong việc đánh giá kết quả học tập của học sinh bằng nhận xét, nhưng việc kiểm tra, đánh giá còn nặng nề. Nhiều giáo viên quá chú trọng vào đánh giá sản phẩm mà chưa chú ý đến quá trình học tập của học sinh.

     Một số giáo viên không đánh giá sản phẩm thực hành của học sinh tại lớp theo hướng dẫn của Bộ mà đã giao bài tập cho học sinh làm ở nhà đem đến lớp đánh giá. 

5. Công tác quản lí, chỉ đạo

Công tác quản lí, chỉ đạo dạy học môn Thủ công, Kĩ thuật chưa được quan tâm đúng mức. Việc bồi dưỡng, kiểm tra, dự giờ, nâng cao năng lực cán bộ quản lí và giáo viên chưa được thực hiện thường xuyên và chưa có hiệu quả thiết thực.

          II. Hướng dẫn điều chỉnh nội dung dạy học môn Thủ công, Kĩ thuật ở Tiểu học.

          1. Thời lượng dạy học:

Giữ nguyên 35 tiết/năm học.

2. Nội dung dạy học:

2.1. Nguyên tắc điều chỉnh :

- Đảm bảo mục tiêu dạy học của môn Thủ công, Kĩ thuật đã được quy định trong Chương trình Giáo dục Phổ thông cấp Tiểu học ban hành kèm theo Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 05 tháng 5 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.

- Đảm bảo việc dạy học phù hợp với đối tượng học sinh, điều kiện thực tế của địa phương và thực sự có hiệu quả.

2. 2.  Nội dung điều chỉnh :

Căn cứ vào đối tượng học sinh và điều kiện thực tế, các địa phương chủ động lựa chọn, điều chỉnh nội dung, kế hoạch dạy học môn Thủ công, Kĩ thuật phù hợp với đối tượng học sinh và điều kiện dạy học các vùng miền theo một trong hai phương án sau:

Phương án 1 : Thực hiện Hướng dẫn thực hiện chương trình các môn học lớp 1,2,3,4,5 theo công văn số 9832/BGDĐT- GDTH ngày 01 tháng 9 năm 2006.

Phương án 2 :  Điều chỉnh nội dung, kế hoạch dạy học được hướng dẫn trong công văn số  9832/BGDĐT- GDTH ngày 01 tháng 9 năm 2006 theo định hướng:

Thay đổi thứ tự dạy học các chủ đề, các bài học trong mỗi chủ đề cho  phù hợp với đối tượng học sinh và điều kiện thực tiễn của địa phương.

Ví dụ :

Ở  lớp 1, có thể thay đổi thứ tự các chủ đề dạy học như : Gấp hình  – Cắt, dán giấy -  Xé, dán giấy ; hay : Cắt, dán giấy – Xé, dán giấy – Gấp hình.

Ở lớp 4, có thể dạy học theo thứ tự : Lắp ghép mô hình kĩ thuật – Trồng rau, hoa – Cắt, khâu, thêu. Hoặc có thể dạy học bài Trồng cây rau, hoa vào đúng thời vụ gieo trồng rau, hoa của địa phương mà không theo thứ tự đã sắp xếp trong Hướng dẫn thực hiện chương trình môn học hiện hành.

-  Tăng hoặc giảm thời lượng dạy học cần thiết của một số bài học. 

Tùy đối tượng học sinh và điều kiện thực tế, địa phương có thể điều chỉnh thời lượng dạy học ở một số bài trong một lớp cho phù hợp.

 Ví dụ : 

Giảm thời lượng 1 tiết ở mỗi bài cắt, dán hình (Cắt, dỏn hỡnh chữ nhật; Cắt, dỏn hỡnh vuụng; Cắt, dỏn hỡnh tam giác). Tăng thời lượng cho các bài Cắt, dán hàng rào ; Cắt, dán và trang trí ngôi nhà ; Xé, dán hình con gà (lớp 1).

-  Lựa chọn nội dung dạy học có trong chương trình, sách giáo khoa (hiện hành) phù hợp với đối tượng học sinh và điều kiện thực tế của địa phương. 

 Có thể chọn, hoặc không chọn dạy một số bài trong chương trình, sách giáo khoa (hiện hành). Hoặc có thể chọn hoặc không chọn dạy học một số nội dung trong mỗi bài học nhưng phải đảm bảo nguyên tắc điều chỉnh đã nêu ở trên.

Ví dụ :

Chủ đề Thêu : Có thể bỏ bài Thêu móc xích (lớp 4), thêu dấu nhân (lớp 5). Với các trường, lớp dạy 2 buổi/ ngày có thể dạy thêu ở buổi thứ 2 hoặc tổ chức như một hoạt động tự chọn ngoài giờ lên lớp.

Chủ đề Trồng rau, hoa:  Vùng có đất sẽ dạy học nội dung trồng cây trên luống ; vùng không có đất dạy học nội dung trồng cây trong chậu (bài Trồng cây rau, hoa lớp 4).

Chủ đề Nuôi gà: Vùng thành phố, thị xã có thể chọn một số bài như Lợi ích của việc nuôi gà, Chăm sóc gà

Trong bài Chăm sóc gà, có thể tập trung dạy học một số kĩ năng chăm sóc gà đơn giản như cho ăn, uống…

   3.  Phương pháp và tổ chức dạy học

  – Tổ chức dạy học môn Thủ công, Kĩ thuật như một hoạt động giáo dục kĩ năng sống, đạo đức cho học sinh.

  -  Tăng cường tổ chức các hoạt động học tập của học sinh để tiết học nhẹ nhàng, hiệu quả.

  -  Tuỳ điều kiện thực tế của nhà trường, tổ chức dạy học ở trong hoặc ngoài lớp học để học sinh được thực hành và được chơi với sản phẩm đã làm ra.

 -  Hướng dẫn học sinh nắm được các thao tác của quy trình tạo ra sản phẩm.

 - Khuyến khích giáo viên tự làm đồ dùng dạy học; ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học Thủ công, Kĩ thuật.

- Đánh giá kết quả học tập của học sinh bằng nhận xét theo chuẩn kiến thức kĩ năng của môn học. Tuyệt đối không giao bài tập cho học sinh làm ở nhà để đánh giá. Khi đánh giá kết quả của học sinh, giáo viên cần nhận xét cả quá trình học tập và coi trọng việc động viên, khuyến khích sự tiến bộ của học sinh.

4.  Công tác quản lí, chỉ đạo

  – Tiếp tục bồi dưỡng giáo viên đổi mới phương pháp dạy học.

  – Tăng cường tổ chức kiểm tra, dự giờ, trao đổi chuyên môn.

  – Tổ chức các chuyên đề tuỳ theo khả năng, nhu cầu của từng trường để nâng cao chất lượng dạy học, góp phần tích cực giáo dục kĩ năng sống và giáo dục đạo đức cho học sinh.

 - Nơi có điều kiện, xây dựng vườn trường để dạy học thực hành kĩ thuật. Vườn trường cần bố trí khoa học, thuận tiện, phù hợp với điều kiện của từng trường, đồng thời góp phần làm xanh, sạch, đẹp trường học.

III. Tổ chức thực hiện

     Căn cứ vào điều kiện thực tế của các tỉnh, thành phố, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo các Phòng Giáo dục và Đào tạo điều chỉnh nội dung, kế hoạch dạy học môn Thủ công, Kĩ thuật từ năm học 2009-2010 ; đồng thời chỉ đạo thực hiện đánh giá, xếp loại học sinh theo chương trình đã điều chỉnh. Việc điều chỉnh nội dung, kế hoạch dạy học có thể thống nhất theo cấp Phòng Giáo dục và Đào tạo.

 Trên địa bàn huyện, nếu có nhiều vùng miền khác nhau, Phòng Giáo dục và Đào tạo có thể chỉ đạo Hiệu trưởng các trường tiểu học quyết định điều chỉnh nội dung, kế hoạch dạy học phù hợp với từng trường tiểu học.   

Nơi nhận:                                                                          KT. BỘ TRƯỞNG

  - Như trên;                                                                                                THỨ  TRƯỞNG                                                 

 -  Cục NG và CBQLGD (để phối hợp thực hiện);

-  Cục CSVCTBTH và ĐCTE (để phối hợp thực hiện);                  (Đã ký)

-  Viện KHGDVN (để phối hợp thực hiện);

-  Vụ GD Trung học ((để phối hợp thực hiện);

- Lưu VT, GDTH.                                                                  

                                                                                         Nguyễn Vinh Hiển 

————————————————————————–

HƯỞNG ỨNG CUỘC THI VIẾT VĂN HAY BẬC TIỂU HỌC

DO PHÒNG GD-ĐT ĐẠ HUOAI DỰ KIẾN TỔ CHỨC TRONG NĂM HỌC 2009-2010

 

(GD&TĐ) – Tôi vẫn nghĩ: Cuộc đời thật là may mắn và diễm phúc, ấy là trong các thể loại bằng chữ quốc ngữ chữ Hán Việt, lại có các tác phẩm văn học.

Thế ví thử không có thì sao nhỉ? Thì thật là bi thảm cho cuộc sống của mỗi chúng ta. Người ta cứ hằng sống, hằng sinh sôi, hằng gây dựng, hằng tạo lập, hằng yêu đương, hằng thương quí nhau, hằng trách nhiệm với nhau trong hết thảy các mối quan hệ mà bất cứ mối quan hệ nào cũng hết sức đáng quí và đáng trân trọng (thế còn trong quan hệ thù địch và ghét bỏ thì sao, nói cho vuông vẫn là rất có ích nếu biết nhìn vào với một thái độ được thắp soi, được chiếu rạng bằng ánh sáng của trí tuệ và trái tim) rồi còn vô vàn điều mà cuộc đời bày ra, tỏ ra, và hết thảy đều được văn học tham dự, đều được văn học hàm xúc, đều được văn học miêu tả và tựu thành, để rồi mỗi con người có thể nhìn vào nó, đọc nó qua ngữ văn (qua Hán văn) mà tạo thêm ra vô vàn sự sinh sôi mới để rồi cuộc đời lại được giầu có lên biết bao, một sự giàu có khó mà có thể hình dung. Văn học, chính là sự thụ cảm, chỉ có sự thụ cảm thôi, còn thì không có bất cứ một cách thức nào nữa hết để đến với nó, để hoà quyện trong nó.

Tôi luôn luôn hình dung khi đọc một cuốn tiểu thuyết, một truyện ngắn, một bài thơ như thể là tôi đang được đắm mình trong đó, trong cái thế giới ảo huyền mà tác phẩm đó đang bày ra, đang mở ra và đang lôi cuốn tôi chỉ qua duy nhất một kênh đó là kênh thị giác, rồi từ đấy kênh thị giác của tôi mới oà ra và như vô vàn các con suối thấm đẫm dần đẫm dần các kênh khác của thính giác, của vị giác, của khứu giác, của xúc giác, và có lẽ vậy, tất cả các kênh ấy mới trào ngược lên cái tự giác (trí tuệ) của tôi. Và điều kỳ lạ là sự cộng hưởng của các kênh trên đây trước cái thời khắc mà đó tự tạo ra một vận động để trào lên tràn lên tri giác (trí tuệ) đều bằng sự thụ cảm. Cái nhẽ đương nhiên, trong đời có vô vàn sự thụ cảm. Nhưng sự thụ cảm văn học là chủ đạo làm nên từ đấy cốt cách, nhân cách trong đời sống của mỗi con người. Và, nơi tạo nên được sự thụ cảm văn học này lại chỉ là ở nhà trường mà ở đó đoàn thể cái tuổi hoa niên tham dự suốt những năm dài của 12 năm. Thế rồi, để hoàn thiện một cách như nhiên tự nhiên cho sự thụ cảm văn học này, tại các lớp sơ học yếu lược, người ta cho trẻ học vào các bài chủ đề, tỉ như. “Em hãy kể về một buổi sáng sớm của một ngày tại gia đình em”. Ối chao, một câu hỏi đầy tính nhân văn và nhân bản. Thế là mỗi một cậu bé, mỗi một cô bé hãy tự thụ cảm xem rằng ở nhà mình thời khắc ấy là ra sao, là thế nào, là trạng huống là các diễn biến trong nhà, với từng người, ông bà cha mẹ, anh em v.v… Cậu bé và cô bé từ sự thụ cảm đó của hiện trạng gia đình mình trong một buổi sáng và buổi sáng nào cũng được, thế rồi khi sự thụ cảm chủ đạo đó đã thấu nhuyễn trong cảm xúc và tri thức của cậu bé đó, cô bé dó, rồi từ đó sẽ là lời văn là câu văn là đoạn văn v.v…

Chưa hết, còn các chủ đề khác nữa chứ: Rồi buổi trưa, rồi buổi chiều, rồi buổi tối. Tôi xin thú thực, ngay như tôi, khi viết một tiểu thuyết nào đó, đến lúc miêu tả một cảnh huống nào, tôi cũng hoàn toàn tự nguyện làm như cách làm của các cậu bé cô bé, mà không thể khác, tuyệt đối không thể khác, nghĩa là từ một sự tạo dựng bởi một cảnh trạng có thật. Bởi không có văn học nào lại hình thành từ sự không có thật cả. Mà phải là từ một sự có thật. Ngay như tôi là nhà văn đã cầm bút từ năm 20 tuổi, nay tôi 70 tuổi, mà khi miêu tả lại một cảnh trạng như trên, tôi cũng theo một qui trình hệt như các trẻ nhỏ làm vậy. Thế rồi qua dòng suối của thụ cảm mà thành ra văn, rồi cái văn học ấy lại cũng bằng sự thụ cảm mà trở lại với toàn thể mọi kênh mà con người có và con người cũng bằng sự thụ cảm ấy mà đem tải cái văn ấy và biến nó trở nên hành trang tinh thần cho cuộc đời của mình. Mỗi con người muốn là một người từng trải, thời bao giờ cũng phải luôn luôn tự tạo cho mình hai kênh thụ cảm chính, đó là: Thứ nhất, thụ cảm từ hoàn cảnh sống của chính mình. Thứ hai là từ sự thụ cảm văn học. Điều này là hết sức quan trọng vì không có nó thì rất khó mà có thể bảo rằng: Anh A đó là con người hoàn thiện, một người từng trải. Đương nhiên, trong đời chẳng phải là ai ai cũng phải có sự thụ cảm văn học. Có rất nhiều người chả bao giờ mó đến quyển sách, nhưng không thể bảo rằng người đó là dốt nát!

Vậy, lứa tuổi học sinh dẫu là học cấp nào, nếu tôn trọng sự thụ cảm của các em, sẽ thấy trẻ yêu văn học. Xuất phát từ thụ cảm văn học thường có một sức lắng đọng sâu sa, và lâu dài. Điều gì mà đi vào ngả lý trí trước thường rất dễ phai nhạt, rất dễ bị quên đi. Nhưng điều gì mà vào xúc cảm, thụ cảm, thường toả rễ ra bám lấy cho thật chặt cái đời sống của cảm xúc của thụ cảm, tôi tin là như vậy.

Tôi đã được tận mắt thấy một lớp học văn học của các em lớp 10 bây giờ. Giờ học ấy, được cô giáo tiến hành như sau: Cô ghi tất cả các cặp từ có trong bài văn đó lên bảng và gạch dưới nó để tạo sự chú ý. Khoảng đâu như có hai mươi cặp từ mà cô cho rằng với trò hẳn là khó hiểu. Thế rồi cô thực hiện giảng bài văn đó qua việc giải thích nghĩa của các cặp từ đó. Cô giải thích xong toàn bộ gần hai mươi cặp từ và kết luận bài bằng cách nói đến chủ đề của bài văn. Vì đấy là bài văn học có từ trước cách mạng tháng 8, nên cô nói rất trôi chảy: “Dưới chế độ phong kiến thuộc địa thì nhân dân ta các tầng lớp sống lầm than dưới ách đô hộ của thực dân Pháp và phong kiến phản động” v.v và v.v… Hết bài. Thế là cô đem cách dạy ngoại ngữ vào một bài văn và cô giáo đinh ninh rằng khi trò hiểu được hết thảy nghĩa của bấy nhiêu cặp từ đó có nghĩa là trò hiểu bài văn. Đó là một nguyên nhân mà trò bây giờ không yêu giờ giảng văn. Còn lứa chúng tôi xưa, thầy dạy văn, thầy nói về sự thụ cảm của thầy với bài văn, và qua đó dòng chảy thụ cảm của thầy nhuần tưới trên mỗi trò, khiến chúng tôi nhớ suốt đời luôn.

Vậy thì trò bây giờ không yêu văn học là vì thầy, thì còn vì cái gì bây giờ, đổ vạ cho ai bây giờ? Tôi xin nói lại: Văn học được tạo lập ra bằng sự thụ cảm, vì vậy hỡi những ai muốn đến với nó thì chỉ có đến bằng sự thụ cảm thôi, còn như nếu đến bằng một cái gì đó khác với sự thụ cảm, đều thất bại, ngay cả khi đến với nó bằng trí tuệ đi nữa, cũng thất bại.

Nhà văn Bùi Bình Thi

——————————————————————————-

Phát huy dân chủ – chìa khóa vạn năng

(GD&TĐ) – Ngày Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Thiện Nhân mới nhậm chức, ông đã “vi hành” khắp các tỉnh thành, đi cơ sở để tìm hiểu thực trạng, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của các CBQL, các thầy cô giáo, các HS, SV, thậm chí cả trực tiếp đi dự giờ trên lớp. Dư luận vốn dĩ rất khắt khe với giáo dục khi ấy chưa bắt kịp với cung cách này của Bộ trưởng nên cũng còn không ít lời bàn ra tán vào. Nhưng rồi những tồn đọng, yếu kém trong ngành được lần lượt được khắc phục, chất lượng GD được nâng lên rõ rệt và đặc biệt là thắng lợi của cuộc vận động “nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục” đã tạo niềm tin lớn trong toàn xã hội.

Chìa khoá của thành công nói trên suy cho cùng chính là việc đẩy mạnh thực hiện dân chủ. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao dân chủ và việc thực hành dân chủ, coi đó là giá trị của xã hội, là thứ quý nhất của con người, là công cụ để đổi mới và phát triển. Quá trình phát triển của giáo dục cũng luôn gắn liền với việc phát huy dân chủ, phát huy vai trò làm chủ của đội ngũ.

Thực hiện dân chủ chính là sự tập hợp trí tuệ của đội ngũ để thống nhất trong hành động, nâng cao chất lượng giáo dục. Tuy nhiên, trong thực tế, thực hiện dân chủ lại không đơn giản mà khá quanh co, phức tạp, do sự chi phối của tư tưởng cá nhân chủ nghĩa. Hơn chục năm qua, mặc dù ngành GD-ĐT luôn nêu cao khẩu hiệu “Dân chủ, kỷ cương, tình thương, trách nhiệm”, nhưng vấn đề dân chủ (được đặt hàng đầu) lại luôn là vấn đề bức xúc ở cơ sở. Trên nguyên tắc, mọi chủ trương, chính sách của ngành đều được thông qua đảng bộ, chi bộ, rồi nhóm trung tâm (ban giám đốc, ban giám hiệu, hội đồng giáo dục), nhưng không ít nơi, việc bàn bạc để thông qua chỉ là hình thức. Vì một khi hiệu trưởng, giám đốc (có khi kiêm bí thư) đã chủ ý quyết định mọi việc thì thường lái cấp dưới đi theo cái guồng sẵn có. Rất nhiều nơi, do cấp dưới có những ý kiến trái chiều với cấp trên mà xảy ra định kiến, trù dập cá nhân. Xuất hiện khá nhiều đơn thư khiếu nại, tố cáo vượt cấp hàng năm ở các cơ sở giáo dục, các trường học xung quanh việc hiệu trưởng, hiệu phó ngang nhiên làm trái quy định của ngành, lợi dụng chức vụ quyền hạn để tham nhũng; nếu có GV nào dám đấu tranh thì lập tức hiệu trưởng, hiệu phó kéo bè kéo cánh để áp chế, tìm cách để cắt thi đua, thậm chí điều chuyển đi nơi khác. Tình trạng này đã dẫn đến tâm lý an phận thủ thường, “ bằng mặt không bằng lòng”, mất đoàn kết nội bộ một cách ngầm ngầm. Kết quả là dân chủ bị thủ tiêu, kéo theo sự trì trệ, chậm phát triển…

Làm thế nào để câu chuyện mất dân chủ nói trên đi đến chấm dứt? Điều này không đơn giản song không phải là không làm được, và đã đến lúc phải thực hiện một cách quyết liệt! Bắt đầu từ sự đổi mới công tác cán bộ. Việc thông báo rộng rãi đến các cơ sở để giới thiệu ứng viên chức danh Thứ trưởng, Vụ trưởng của Bộ GD-ĐT, việc thi tuyển chức danh Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng ở thành phố Đà Nẵng và một vài tỉnh thành khác là dấu hiệu khởi đầu của sự đổi mới tích cực, có hiệu quả. Tuy nhiên, rất cần thực hiện công khai hoá chế độ trách nhiệm của các lãnh đạo, cán bộ quản lý ngành GD. Một số bất cập trong quy định xét khen thưởng, kỷ luật đối với CBCC hiện nay cũng cần phải được khắc phục. Một khi người đứng đầu đơn vị giáo dục, trường học có sai phạm, mất uy tín thì cũng không nên chỉ áp dụng kỷ luật theo lối bình quân chủ nghĩa khá phổ biến hiện nay là khiển trách hay cảnh cáo cho có chuyện, thay vì cách chức, cho thôi việc để tránh gây thêm những hậu quả khôn lường. Về phía GV, không chỉ chú trọng nâng cao kiến thức, tay nghề mà rất cần trang bị đầy đủ hơn về luật giáo dục, điều lệ trường học. Một khi đã có “ cẩm nang” trong tay, họ sẽ tự tin hơn trong vai trò làm chủ, dám đấu tranh loại trừ tiêu cực để  bảo vệ lợi ích của bản thân và của tập thể!

——————————————————————————

Thầy cô phải xứng đáng là tấm gương của HS

(GD&TĐ) – Bộ GD&ĐT đã có Quy định về đạo đức nhà giáo, trong đó nêu những cụ thể về phẩm chất chính trị; đạo đức nghề nghiệp; lối sống tác phong; giữ gìn, bảo vệ truyền thống đạo đức nhà giáo. Năm học 2009- 2010, ngành GD&ĐT tiếp tục thực hiện cuộc vận động “Mỗi thầy giáo, cô giáo là một tấm gương đạo đức tự học và sáng tạo”. PV GD&TĐ đã ghi lại ý kiến, suy nghĩ riêng của một số nhà giáo, cán bộ quản lý GD xoay quanh vấn đề đạo đức nhà giáo.

Ông Lê Tiến Thành (Vụ trưởng Vụ GD Tiểu học, Bộ GD&ĐT):

Ở GD tiểu học, cô giáo có vị trí hết sức quan trọng. Trẻ con ở tiểu học coi cô giáo là người “đẹp nhất”, “giỏi nhất”, “đúng nhất”… thậm chí là “thần tượng”. Nếu cô giáo gương mẫu, làm tốt công việc của mình thì HS sẽ nhìn vào đó như một tấm gương. Vì vậy GV phải có tâm huyết. Nếu GV luôn nghĩ được như vậy thì sẽ làm tốt công việc của mình. Trên thực tế, chỉ có một số rất ít GV vi phạm đạo đức nghề nghiệp. Nếu làm rùm beng lên vấn đề vi phạm đạo đức của GV tôi nghĩ là không công bằng. Hãy nhớ rằng còn bao nhiêu GV chưa lập gia đình đang miệt mài dạy học trên núi… Việt Nam từ một nền kinh tế bao cấp chuyển sang kinh tế thị trường, mọi hoạt động theo đó cũng “quay cuồng”, so sánh số GV “hư” và GV có đạo đức tốt thì tỷ lệ GV “hư” là rất ít. Về đạo đức thì GV phải tự giác. GV phải luôn nghĩ rằng mình là thần tượng của học trò thì sẽ có những cư xử đúng mực.

Ông Nguyễn Hữu Độ (GĐ Sở GD&ĐT Hà Nội):

Trong GD, cụ thể là trong công việc dạy học của GV có mang dấu ấn của cá nhân rất sâu sắc. Vai trò của người thầy rất quan trọng và vì việc dạy học mang dấu ấn cá nhân, cho nên người thầy không chỉ là người truyền đạt kiến thức mà còn là người dạy học bằng cả nhân cách của con người mình. Theo tôi, người dạy phải có nhân cách đủ để HS tin tưởng. Cuộc vận động “Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức…” là cuộc vận động rất ý nghĩa vì góp phần nâng cao chất lượng đạo đức của nhà giáo và từ đó người thầy phải bằng cả tâm huyết và trách nhiệm của mình để tạo niềm tin cho HS.

Ông Đặng Đình Đại (Hiệu trưởng Trường THPT Nguyễn Gia Thiều, Hà Nội):

Hồi tôi còn dạy học ở Cao Bằng, ngày Tết của thầy cô (ngày 20/11), quà của học trò đơn giản có thể chỉ là những bông hoa dại mọc ven đường. Khi tôi về Hà Nội công tác, thời buổi kinh tế còn khó khăn, học trò có khi biếu thầy gói mì chính, bịch gạo 5 kg… Dần dần rồi những thứ đó cồng kềnh quá và cái gì cũng được quy ra “thóc”, chuyển thành phong bì. Phụ huynh thường nói với cô giáo có bó hoa, hộp bánh… tặng cô nhưng thực tế đều quy ra phong bì. Dần dần điều này trở thành xu hướng chung của toàn xã hội, không riêng gì ngành GD.

Ông Nguyễn Tùng Lâm (Hiệu trưởng Trường THPT dân lập Đinh Tiên Hoàng, Hà Nội):

Sản phẩm cuối cùng của GD là nhân cách người học… Để tạo ra nhân cách người học, người dạy không chỉ hiểu biết sâu sát từng HS, mỗi HS có xuất phát điểm về nhận thức, hoàn cảnh, cá tính khác nhau, đòi hỏi phải có cách dạy khác nhau cho phù hợp. UNESCO đã tổng kết người dạy phải tạo cho HS thấy rõ việc học ở trường “là để biết, để làm, để cùng chung sống, để làm người”. Người thầy giáo hiện nay chưa làm rõ việc này thì chưa phải thầy giáo thế kỷ 21. Để tạo nên nhân cách người học, trước hết ông thầy phải là người có nhân cách, người thầy phải biết thuyết phục HS bằng chính nhân cách của mình.

Nhà giáo nào vi phạm nhân cách HS, không tôn trọng HS, cha mẹ HS, đồng nghiệp, hoặc có bất cứ vi phạm đạo đức nào cũng phải bị xử lý. Phải có điều luật cụ thể với những mức hình phạt nhất định (nhẹ phạt hành chính, nặng phải chấp nhận sa thải…). Tôi được tham khảo luật nhà giáo của Canada, họ quy định GV phải luôn luôn tôn trọng HS và không được lợi dụng nghề nghiệp để làm gương xấu cho HS. Ví dụ, theo tôi, bậc tiểu học không được dạy thêm (nếu đã dạy 2 buổi/ ngày- PV). Điều xấu nhất là các thầy cô giáo đem học trò về nhà dạy thêm.

PGS.TS Trần Quốc Thành (Trưởng khoa Tâm lý GD, Trường ĐH Sư phạm Hà Nội):

Phẩm chất đạo đức là một thành phần quan trọng trong cấu trúc nhân cách của người giảng viên ĐH. Phẩm chất đạo đức ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả hoạt động sư phạm của người giảng viên. Vì thế cần phải thể chế hoá các yêu cầu về đạo đức của người giảng viên; có biện pháp hình thành những phẩm chất đạo đức này cho giảng viên ĐH. Trong tình hình hiện nay, việc tìm kiếm các biện pháp GD đạo đức cho SV đang trở thành yêu cầu cực kỳ quan trọng. Một trong các biện pháp GD đạo đức cho SV là thông qua các hoạt động sư phạm của giảng viên. Do đó, việc tăng cường bồi dưỡng các phẩm chất đạo đức cho giảng viên sẽ góp phần quan trọng để nâng cao hiệu quả GD đạo đức cho sinh viên, qua đó nâng cao chất lượng đào tạo của các trường ĐH hiện nay.

Ông Phạm Mạnh Hùng (Cục trưởng Cục Nhà giáo và Cán bộ quản lý cơ sở GD, Bộ GD&ĐT):

Bộ GD&ĐT đã có văn bản quy định rõ về đạo đức nhà giáo với các tiêu chí khá đầy đủ. Chỉ có điều thực hiện quy định này như thế nào và kiểm tra giám sát việc thực hiện ra sao. Giám sát việc thực hiện đạo đức và nghề nghiệp của GV trước hết phải từ nhà trường. Không chỉ do cán bộ quản lý, mà ngay cả đồng nghiệp, HS, phụ huynh đều có quyền giám sát thầy cô trong việc thực hiện đạo đức nhà giáo. Nhà giáo chịu sự giám sát của xã hội và cả HS cũng có thể giám sát thầy cô trên cơ sở tôn trọng và lễ phép.

————————————

Xây dựng “Trường học thân thiện, học sinh tích cực” cần sự hỗ trợ của toàn xã hội

(GD&TĐ) – Ngay trước thềm năm học mới 2009–2010, Vụ Giáo dục Tiểu học – Bộ Giáo dục & Đào tạo đã phối hợp với Quỹ Unilever Việt Nam – Nhãn hàng OMO tổ chức hội thảo chuyên đề Cùng em xây dựng cộng đồng thân thiện, văn minh. Chúng tôi đã có dịp trao đổi với ông Trần Đình Thuận – Giám đốc Ban quản lý Chương trình đảm bảo chất lượng trường học, Bộ Giáo dục & Đào tạo, về công tác xây dựng mô hình “Trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong những năm học tới.

Thưa ông, xin ông vui lòng giới thiệu rõ hơn về mô hình “Trường học thân thiện, Học sinh tích cực”?

Trường học thân thiện, Học sinh tích cực là mô hình trường học do Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF) khởi xướng từ những năm cuối của thế kỉ trước. Đây là một mô hình đã được triển khai và đạt kết quả rất tốt ở nhiều quốc gia trên thế giới. Tại Việt Nam, từ năm 2000, Bộ Giáo dục & Đào tạo đã phối hợp với tổ chức UNICEF để thực hiện thí điểm mô hình trường tiểu học bạn hữu trẻ em cấp Tiểu học. Đến năm 2006, chúng ta tiếp tục triển khai thí điểm mô hình trường THCS thân thiện và từ năm học này sẽ mở rộng thành “Trường học thân thiện, học sinh tích cực”, áp dụng trên phạm vi tất cả các cấp học trên toàn quốc. Mô hình “Trường học thân thiện, học sinh tích cực” là sự kết hợp chặt chẽ, tích cực giữa nhà trường và cộng đồng, nhằm hướng tới một môi trường giáo dục an toàn, bình đẳng, thân thiện, hiệu quả, tạo hứng thú cho học sinh tích cực học tập cũng như tham gia các hoạt động khác. Ngoài ra, mô hình này còn góp phần đảm bảo quyền trẻ em, nâng cao chất lượng giáo dục trên cơ sở tập trung mọi nguồn lực của nhà trường vì học sinh thân yêu. Các em sẽ không còn cảm thấy áp lực với việc học nữa mà sẽ cảm thấy mỗi giờ học là mỗi cơ hội giúp các em tiếp thu được những kiến thức sinh động, thú vị một cách phù hợp với tâm lý của các em nhất.

Thực tế thời gian qua, xã hội không ít lần phải lên tiếng báo động về tình trạng học sinh quá thụ động, một số chương trình học như Đạo đức, Giáo dục công dân chưa thật sự phù hợp với các em. Từ mô hình “Trường học thân thiện, học sinh tích cực” này, xin ông giới thiệu một số tiêu chí căn bản của mô hình để hướng đến một sự đổi thay tích cực trong phương pháp dạy và học…

Với mô hình mới này, chúng ta sẽ cố gắng thực hiện những tiêu chí căn bản như: Tiếp nhận tất cả trẻ em trong độ tuổi được đi học và hoàn thành cấp học; Chương trình, phương pháp dạy học phù hợp, hiệu quả, chú ý giáo dục kĩ năng sống cho học sinh; Môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, hỗ trợ và bảo vệ về cả thể chất và tinh thần cho học sinh; Thực hiện tốt bình đẳng giới trong mọi hoạt động của nhà trường, công bằng trong đối xử.

Với mô hình mới này, không những tích cực thay đổi, chúng tôi còn cố gắng khuyến khích các em học sinh, gia đình, cộng đồng và nhà trường cùng tham gia xây dựng. Tôi tin rằng bằng những thay đổi tích cực như đã kể trên, chúng ta sẽ dần loại bỏ được tình trạng học “đọc – chép”, hướng các em học sinh đến các phương pháp vừa học vừa thực hành, được trang bị kỹ năng sống đầy đủ.

Ông có thể nêu một số hoạt động cụ thể mà các trường cần hướng tới thực hiện để có thể đáp ứng tốt với mô hình “Trường học thân thiện, học sinh tích cực” không ạ?

Với mô hình “Trường học thân thiện, học sinh tích cực”, chúng tôi yêu cầu các trường cần xây dựng trường lớp xanh, sạch, đẹp, an toàn; dạy và học hiệu quả, giúp các em tự tin trong học tập; rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh; tổ chức các hoạt động tập thể vui tươi lành mạnh; cho học sinh tham gia tìm hiểu, chăm sóc và phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hóa.

Phong trào đã có sự hưởng ứng và được triển khai tích cực ở tất cả các tỉnh, thành phố, ở tất cả các cấp học: từ mầm non cho đến trung học phổ thông. Không những thế, phong trào còn được sự ủng hộ và tham gia của các ban, ngành, đoàn thể địa phương.

Việc đặt mô hình này trong tình hình “xã hội hóa giáo dục” sẽ thu hút được sự quan tâm và đóng góp phía các đơn vị kinh tế, tổ chức xã hội như thế nào, thưa ông?

Nhiều công ty, nhiều đơn vị xã hội đã liên kết cùng chúng tôi, để đóng góp xây dựng các sân chơi an toàn đạt chuẩn quốc tế, tạo điều kiện cho các em học sinh ở các cấp lớp nhỏ có điều kiện tăng cường hợp lý các hoạt động ngoài giờ, ngoại khóa… nhằm giảm sức ép, cường độ học tập, giúp các em tiếp thu kiến thức một cách thoải mái và phù hợp với tâm lý của các em hơn. Điển hình là Chương trình Hợp tác Liên ngành mà Vụ Giáo dục Tiểu học, Bộ Giáo dục & Đào tạo đã ký kết với Quỹ Unilever Việt Nam – Nhãn hàng OMO. Kể từ năm học 2006-2007 đến nay, chương trình đã đầu tư trang bị hàng loạt sân chơi và cụm thiết bị vui chơi vận động tiêu chuẩn quốc tế cho hơn 100 trường tiểu học trên toàn quốc, tạo điều kiện vui chơi, hoạt động thể chất, rèn luyện các kỹ năng sống cho trên 100.000 học sinh. Đây là những đóng góp rất quan trọng cho việc nâng cao chất lượng cơ sở vật chất nhà trường, đem lại lợi ích thiết thực cho học sinh, và cũng đi đúng theo chủ trương xây dựng và nhân rộng mô hình “Trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Chúng tôi rất mong sẽ tiếp tục nhận được nhiều hơn nữa những hỗ trợ như vậy từ phía các ban ngành xã hội, các đơn vị kinh tế, để học sinh của chúng ta có điều kiện phát triển toàn diện cả về thể lực và trí lực.

Xin cám ơn ông.

————————-

Một vài từ thường được sử dụng chưa đúng

(GD&TĐ) – Hiện nay nhiều người (kể cả một số cơ quan truyền thông) thường dùng sai (hoặc chưa chính xác) một số từ ngữ, chẳng hạn:

1. Phụ huynh học sinh: Từ này là mang đậm chất phong kiến, vì nó bỏ qua vai trò người mẹ (phụ: cha, huynh: anh). Luật GD (cả luật 1998 và luật 2005) cùng các văn bản hướng dẫn không dùng từ này để thay thế cho từ cha mẹ học sinh.

2. Hội cha mẹ học sinh (hoặc Hội phụ huynh học sinh).

Điều 96 của Luật GD 2005 qui định:
“Ban đại diện cha mẹ học sinh được tổ chức trong mỗi năm học ở GDMN, GDPT; do cha mẹ hoặc người giám hộ học sinh từng lớp, từng trường cử ra để phối hợp với nhà trường thực hiện các hoạt động giáo dục”.. Ban đại diện cha mẹ học sinh hoạt động theo Điều lệ Ban đại diện cha mẹ học sinh, ban hành theo Quyết định số 11/2008/QĐ-BGD&ĐT ngày 28/3/2008 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT.
Không có văn bản pháp luật nào qui định trong trường học hiện nay có Hội cha mẹ học sinh hoặc Hội phụ huynh học sinh (Hội cha mẹ học sinh đã không được thành lập ở các trường học cách đây gần chục năm)

3. Môn Anh văn: Ngay cả một số giáo viên Tiếng Anh phổ thông cũng nói môn dạy của mình là môn Anh văn. Trong khi các văn bản pháp qui của Bộ GD&ĐT  (chương trình, SGK, sách hướng dẫn giảng dạy,…) đều ghi rõ là môn Tiếng Anh từ vài chục năm nay.

4. Bậc tiểu học: Từ này chỉ đúng với Luật GD năm 1998, còn theo Luật GD năm 2005 thì sai.

Theo Luật GD năm 1998 thì GDPT gồm bậc tiểu học và bậc trung học; bậc trung học gồm có cấp THCS và cấp THPT. Theo Luật GD năm 2005 thì GDPT có 3 cấp học là tiểu học, THCS và THPT. Vậy phải gọi là cấp tiểu học.

5. Cấp học mầm non: Theo Điều 4 Luật GD năm 2005 thì giáo dục mầm non có 2 cấp học là nhà trẻ và mẫu giáo. Nhưng Điều 1 của Quyết định 149/2006/QĐ-TTg ngày 23/6/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án “Phát triển giáo dục mầm non giai đoạn 2006-2015” lại ghi: “giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân”. Vì Luật GD có hiệu lực pháp lý cao hơn nên ta phải theo cách gọi của Luật GD (gọi là bậc mầm non, các văn bản liên quan của Bộ GD&ĐT cũng gọi theo cách này).

6. Hiệu phó: Kể từ khi có Điều lệ trường phổ thông (do Bộ GD&ĐT Nguyễn Thị Bình ký năm 1979) thì từ này không dùng nữa và được thay bằng từ Phó Hiệu trưởng (Phó: giúp việc). Gọi như vậy chính xác hơn vì theo Điều lệ trường học thì Phó Hiệu trưởng là người giúp việc cho Hiệu trưởng.

7. Ban giám hiệu: Từ này dùng từ thời chống Pháp đến năm 1979. Theo Điều lệ trường phổ thông (năm 1979) thì trong trường phổ thông không có Ban giám hiệu (hiệu: nhà trường) mà chỉ có Hiệu trưởng và người giúp việc cho Hiệu trưởng là Phó Hiệu trưởng. Nhà trường thực hiện chế độ thủ trưởng (khác với chế độ lãnh đạo theo Ban là quyết định theo đa số). Song kể từ khi có Luật GD năm 2005 cùng các văn bản hướng dẫn thi hành thì từ này được dùng lại (với nghĩa được hiểu là tập hợp gồm Hiệu trưởng và các Phó Hiệu trưởng ở một trường học), BGH không thực hiện chế độ lãnh đạo theo Ban (thiểu số phục tùng đa số, như các Ban chấp hành của các tổ chức, đoàn thể). Các Điều lệ nhà trường mới ban hành cũng dùng từ này (đây là một ví dụ cho tình trạng: Sáng đúng, chiều sai, đến mai lại đúng. Một nhà ngôn ngữ học nổi tiếng có nói một câu rất hay là: Ngôn ngữ ngày mai được bắt đầu từ hàng loạt những sai lầm trong ngôn ngữ ngày hôm nay).

8. Ban chấp hành (BCH) Đảng ủy, BCH Huyện ủy: Theo Điều lệ Đảng thì BCH Đảng bộ gọi tắt là Đảng ủy, BCH Đảng bộ huyện gọi tắt là Huyện ủy. Như vậy cách gọi trên thừa từ BCH.

9. Tối ưu nhất: Tối có nghĩa là hơn hết, là nhất rồi (ví dụ: Tối đa là nhiều nhất, tối cao là cao nhất,…), lại thêm chữ nhất vào là thừa.

10.. Cứu cánh: Từ này có nghĩa là mục đích cuối cùng (từ điển Tiếng Việt – Viện Ngôn ngữ học – NXB Đà Nẵng – 2002). Từ cứu ở đây có nghĩa là cuối cùng (ví dụ: Nghệ thuật là phương tiện, không phải là cứu cánh); song nhiều người hiểu lầm nên đã dùng sai (vídụ: Doanh nghiệp là cứu cánh cho nền kinh tế – thời sự VTV1 sáng 31/8/2009)

Ngoài những từ kể trên, trong các cuộc họp và trong đời sống hàng ngày ta thường thấy nhiều người nói tham quan thành thăm quan, vô hình trung thành vô hình chung hoặc vô hình dung, bàng quan thành bàng quang (là cái bọng…..nước tiểu), sáp nhập thành sát nhập, trung học phổ thông thành phổ thông trung học, chín muồi thành chín mùi, mạn tính thành mãn tính, hợp chúng quốc thành hợp chủng quốc, Buôn Ma Thuột thành Buôn Mê Thuột hoặc Ban Mê Thuột; điểm yếu thành yếu điểm…
   
Mong rằng những hiện tượng nhầm lẫn trong việc dùng từ nói trên sẽ ngày càng ít đi, nhất là đối với đội ngũ CBQL và giáo viên trong ngành GD&ĐT của chúng ta./.

20 ĐIỀU THẦY CÔ CẦN GHI NHỚ

1. Hãy vui cùng những thành tích nhỏ bé của học trò và hãy chia sẻ những thất bại của chúng.

2. Bạn là người rất gần gũi với học trò, hãy cố gắng để chúng luôn cởi mở với bạn. Hãy vừa là bạn vừa là thày của chúng.

3. Đừng ngại thừa nhận với học trò là mình không biết về một vấn đề nào đó. Hãy cùng chúng tìm câu trả lời.

4. Hãy cố gắng khơi dậy sự tự tin trong mỗi em học sinh. Khi đó chúng sẽ đạt tới nhiều đỉnh cao trong học tập.

5. Đừng đòi hỏi một “kỷ luật lý tưởng” trong giờ học. Bạn đừng độc đoán quá, hãy nhớ rằng giờ học là một phần cuộc sống của đứa trẻ, vì vậy đừng làm cho giờ học gò bó quá, cứng nhắc quá. Qua mỗi giờ học đứa trẻ cần trở thành một nhân cách cởi mở, say mê, sáng tạo và phát triển toàn diện.

6. Hãy cố gắng để giờ giảng của bạn không khuôn mẫu quá, chuẩn mực quá. Tuyệt vời nhất là trong mỗi giờ học đều có những “phát minh” nho nhỏ được diễn ra, những chân lí nho nhỏ được phát hiện, những đỉnh cao tri thức được chinh phục và những cuộc tìm kiếm bắt đầu.

7. Các cuộc gặp gỡ với phụ huynh học sinh cần thiết thực và hiệu quả. Mỗi buổi họp phụ huynh là dịp để bạn cung cấp thêm cho họ những kiến thức về tâm lí, sư phạm, về quá trình học tập.

8. Hãy bước vào lớp với nụ cười. Khi học trò chào, hãy nhìn vào mắt từng em để hiểu được tâm trạng cúa chúng, vui thì chia vui, buồn thì động viên.

9. Hãy luôn ghi nhớ: Học trò không phải là một chiếc bình cần đổ đầy kiến thức, các em là những ngọn đuốc cần được thắp lên.

10. Điểm kém ảnh hưởng không tốt đến việc hình thành nhân cách của học trò. Bạn hãy cố gắng chùng nào có thể để tránh cho các em điểm kém. Hãy tìm cách khác để khắc phục tình trạng này.

11. Mỗi bài giảng của bạn phải là một bước tiến, dù là rất nhỏ, về phía trước trong việc khám phá tri thức. Học sinh cần phải vượt qua những khó khăn trong việc tiếp thu kiến thức và bạn hãy tính toán sao cho mức độ của những khó khăn đó thật phù hợp.

12. Đừng tìm những con đường dễ dàng nhất trong việc giảng dạy. Như thế học trò sẽ lười suy nghĩ, bạn cần làm cho chúng thấy việc học là lao động thực sự. Điều quan trọng nhất là bạn phải luôn khích lệ, luôn ở bên chúng khi khó khăn.

13. Nếu phải cân nhắc giữa hai điểm số khi cho điểm học sinh thì bạn hãy chọn điểm cao hơn. Hãy chắp cho đứa trẻ đôi cánh, hãy tin ở em, cho em hy vọng.

14. Không cần che giấu tình cảm của mình với các em, nhưng cần tuyệt đối tránh sự ưu ái đặc biệt với một vài em nào đó. Hãy cố nhìn thấy những ưu điểm ẩn sâu trong mỗi em. Có thể chính các em cũng không biết mình có những ưu điểm đó. Bạn hãy giúp chúng nhận ra, phát triển chúng thêm.

15. Hãy nhớ rằng trên lớp học sinh cần phải cảm thấy hấp dẫn và thú vị. Chỉ có sự hấp dẫn mới làm các em tập trung chú ý được.

16. Khi tiếp xúc với phụ huynh học sinh, bạn cần nhớ rằng đối với họ đứa con là quí giá nhất trên đời. Vì thế, bạn hãy hết sức tế nhị, tránh đừng để phụ huynh bị tổn thương.

17. Đừng sợ xin lỗi học trò nếu thấy mình sai.Xin lỗi chỉ làm tăng uy tín của bạn trong mắt các em mà thôi. Khi các em mắc lỗi, bạn cũng đừng nóng nảy quá.

18. Hãy cố gắng sống hết mình với các em. Vui cùng vui, buồn cùng buồn. Đùa nghịch và dạy dỗ. Hãy kiềm chế khi các em nói dối. Công bằng, kiên trì và trung thực là khẩu hiệu của bạn.

19. Đừng dạy học sinh quá tự tin- sau này chúng sẽ bị xa lánh; quá rụt rè- chúng sẽ bị coi thường; quá lắm lời- chúng sẽ không được ai tính đến; quá cứng nhắc- chúng sẽ bị khước từ.

20. Một lần nữa xin nhắc lại: Hãy kiềm chế, bình tĩnh, kiền trì và mềm mỏng.

========================

————————————————————————————–

Chính tả tiếng Việt  

Dấu hỏi dấu ngã trong tiếng Việt  

U HỎI VÀ DTrong tiếng Việt chúng ta sử dụng tất cả 1270 âm tiết với dấu hỏi hoặc với dấu ngã, trong đó có 793 âm tiết (chiếm 62%) viết dấu hỏi, 477 âm tiết (38%) viết dấu ngã. Việc nắm được quy luật dấu hỏi và dấu ngã của lớp từ láy và lớp từ Hán Việt sẽ giúp ta giảm được nhiều lỗi chính tả. 

I. Từ láy và từ có dạng láy

 Các thanh ngang (viết không có dấu) và sắc đi với thanh hỏi, ví dụ như: dư dả, lửng lơ, nóng nẩy, vất vả…
 Các thanh huyền và nặng đi với thanh ngã, ví dụ như: tầm tã, lững lờ, vội vã, gọn ghẽ…

Quy tắc từ láy chỉ cho phép viết đúng chính tả 44 âm tiết dấu ngã sau đây:

ã: ầm ã, ồn ã
sã: suồng sã
thãi: thưà thãi
vãnh: vặt vãnh
đẵng: đằng đẵng
ẫm: ẫm ờ
dẫm: dựa dẫm, dọa dẫm, dò dẫm
gẫm: gạ gẫm
rẫm: rờ rẫm
đẫn: đờ đẫn
thẫn: thờ thẫn
đẽ: đẹp đẽ
ghẽ: gọn ghẽ
quẽ: quạnh quẽ
kẽo: kẽo kẹt
nghẽo: ngặt nghẽo
nghễ: ngạo nghễ
nhễ: nhễ nhại
chễm: chiễm chệ
khễnh: khập khễnh
tễnh: tập tễnh
nghễu: nghễu nghện
hĩ: hậu hĩ
ĩ: ầm ĩ
rĩ: rầu rĩ, rầm rĩ
hĩnh: hậu hĩnh, hợm hĩnh
nghĩnh: ngộ nghĩnh
trĩnh: tròn trĩnh
xĩnh: xoàng xĩnh
kĩu: kĩu kịt
tĩu: tục tĩu
nhõm: nhẹ nhõm
lõng: lạc lõng
õng: õng ẹo
ngỗ: ngỗ nghịch, ngỗ ngược
sỗ: sỗ sàng
chỗm: chồm chỗm
sỡ: sặc sỡ, sàm sỡ
cỡm: kệch cỡm
ỡm: ỡm ờ
phỡn: phè phỡn
phũ: phũ phàng
gũi: gần gũi
hững: hờ hững

Ngoài ra còn có 19 âm tiết dấu ngã khác dùng như từ đơn tiết mà có dạng láy ví dụ như: 

cãi cọ

giãy giụa

sẵn sàng

nẫu nà

đẫy đà

vẫy vùng

bẽ bàng

dễ dàng

nghĩ ngợi

khập khiễng

rõ ràng

nõn nà

thõng thượt

ngỡ ngàng

cũ kỹ

nũng nịu

sững sờ

sừng sững

vững vàng

ưỡn ẹo

# Cần phải nhớ cãi cọ khác với cải củ, nghĩ ngợi khác với nghỉ ngơi.

Như vậy quy tắc hài thanh cho phép viết đúng chính tả 63 âm tiết dấu ngã. Ngoài ra còn có 81 âm tiết dấu ngã dưới đây thuộc loại ít dùng:

 Ngãi, tãi, giãn (dãn), ngão, bẵm, đẵm (đẫm), giẵm (giẫm), gẵng, nhẵng, trẫm, nẫng, dẫy (dãy), gẫy (gãy), nẫy (nãy), dẽ, nhẽ (lẽ), thẽ, trẽ, hẽm (hẻm), trẽn, ẽo, xẽo, chễnh, lĩ, nhĩ, quĩ, thĩ, miễu, hĩm, dĩnh, đĩnh, phĩnh, đõ, ngoã, choãi,doãi, doãn, noãn, hoãng, hoẵng, ngoẵng, chõm, tõm, trõm, bõng, ngõng, sõng, chỗi (trỗi), giỗi (dỗi), thỗn, nỗng, hỡ, xỡ, lỡi, lỡm, nỡm, nhỡn, rỡn (giỡn), xũ, lũa, rũa (rữa), chũi, lũi, hũm, tũm, vũm, lũn (nhũn), cuỗm, muỗm, đuỗn, luỗng, thưỡi, đưỡn, phưỡn, thưỡn, chưỡng, gưỡng, khưỡng, trưỡng, mưỡu (Tác giả 2).

Tôi để ý thấy rất nhiều lỗi chính tả ở những âm tiết rất thường dùng sau đây:
 đã (đã rồi), sẽ (mai sẽ đi), cũng (cũng thế), vẫn (vẫn thế), dẫu (dẫu sao), mãi (mãi mãi), mỗi, những, hễ (hễ nói là làm), hỡi (hỡi ai), hãy, hẵng.

# Cũng có những trường hợp ngoại lệ như:

 1. Dấu ngã: đối đãi (từ Hán Việt), sư sãi (từ Hán Việt), vung vãi (từ ghép), hung hãn (từ Hán Việt), than vãn, ve vãn, nhão nhoét (so sánh: nhão nhoẹt), minh mẫn (từ Hán Việt), khe khẽ (so sánh: khẽ khàng), riêng rẽ, ễnh ương, ngoan ngoãn, nông nỗi, rảnh rỗi, ủ rũ…
 2. Dấu hỏi: sàng sảy (từ ghép), lẳng lặng, mình mẩy, vẻn vẹn, bền bỉ, nài nỉ, viển vông, chò hỏ, nhỏ nhặt, nhỏ nhẹ, sừng sỏ, học hỏi, luồn lỏi, sành sỏi, vỏn vẹn, mềm mỏng, bồi bổ, chồm hổm, niềm nở, hồ hởi… (Tác giả 2)

II. Từ Hán Việt

a) Dùng dấu hỏi khi có phụ âm đầu là:
 Ch-: chuẩn, chỉ, chỉnh, chủ, chuẩn, chủng, chuyển, chưởng.
 Gi-: giả, giải, giảm, giản, giảng, giảo.
 Kh-: khả, khải, khảm, khảng, khảo, khẳng, khẩn, khẩu, khiển, khoả, khoản, khoảnh, khổ, khổng, khởi, khuẩn, khủng, khuyển, khử.
 Và các từ không có phụ âm đầu như: ải, ảm, ảnh, ảo, ẩm, ấn, ẩu, ổn, uẩn, ủng, uổng, uỷ, uyển, ỷ, yểm, yểu.

b) Dùng dấu ngã khi có phụ âm đầu là:
 D-: dã, dẫn, dĩ, diễm, diễn, diễu, dĩnh, doãn, dõng, dũng, dữ, dưỡng.
 L-: lãm, lãn, lãng, lãnh, lão, lẫm, lễ, liễm, liễu, lĩnh, lõa, lỗi, lỗ, lũ, lũng, luỹ, lữ, lưỡng.
 M-: mã, mãi, mãn, mãng, mãnh, mão, mẫn, mẫu, mỹ, miễn.
 N-(kể cả NH-NG): nã, não, ngã, ngãi, ngẫu, nghĩa, nghiễm, ngỗ, ngũ, ngữ, ngưỡng, nhã, nhãn, nhẫn, nhĩ, nhiễm, nhiễu, nhỡn, nhũ, nhũng, nhuyễn, nhưỡng, noãn, nỗ, nữ.
 V-: vãn, vãng, vẫn, vĩ, viễn, vĩnh, võ, võng, vũ.

c) 33 từ tố Hán-Việt có dấu ngã cần ghi nhớ (đối chiếu với bản dấu hỏi bên cạnh):

Bãi: bãi công, bãi miễn
Bảo: bảo quản, bảo thủ Bão: hoài bão, bão tố
Bỉ: bỉ ổi, thô bỉ Bĩ: vận bĩ, bĩ cực thái lai
Cưỡng: cưỡng bức, miễn cưỡng  
Cửu: cửu trùng, vĩnh cửu Cữu: linh cữu
Đãi: đối đãi, đãi ngộ  
Đảng: đảng phái Đãng: quang đãng, dâm đãng
Để: đại để, đáo để, triệt để Đễ: hiếu đễ
Đỗ: đỗ quyên  
Hải: hải cảng, hàng hải Hãi: kinh hãi
Hãm: kìm hãm, hãm hại  
Hãn: hãn hữu, hung hãn  
Hãnh: hãnh diện, kiêu hãnh  
Hoãn: hoãn binh, hoà hoãn  
Hổ: hổ cốt, hổ phách Hỗ: hỗ trợ
Hỗn: hỗn hợp, hỗn độn  
Huyễn: huyễn hoặc  
Hữu: tả hữu, hữu ích  
Kỷ: kỷ luật, kỷ niệm, ích kỷ, thế kỷ Kỹ: kỹ thuật, kỹ nữ
Phẫn: phẫn nộ  
Phẫu: giải phẫu  
Quẫn: quẫn bách, quẫn trí  
Quỷ: quỷ quái, quỷ quyệt Quỹ: công quỹ, quỹ đạo
Sỉ: sỉ nhục, liêm sỉ Sĩ: sĩ diện, chiến sĩ, nghệ sĩ
Tể: tể tướng, chúa tể, đồ tể Tễ: dịch tễ
Thuẫn: hậu thuẫn, mâu thuẫn  
Tiễn: tiễn biệt, thực tiễn, hoả tiễn  
Tiểu: tiểu đội, tiểu học Tiễu: tuần tiễu, tiễu phỉ
Tỉnh: tỉnh ngộ, tỉnh thành Tĩnh: bình tĩnh, yên tĩnh
Trĩ: ấu trĩ  
Trữ: tích trữ, trữ tình  
Tuẫn: tuẫn nạn, tuẫn tiết  
Xả: xả thân Xã: xã hội, xã giao, thị xã

(Tác giả 2)

III. Tóm tắt

1. Từ láy: Các thanh không (ngang) và sắc đi với thanh hỏi. Các thanh huyền và nặng đi với thanh ngã. Để cho dễ nhớ chúng ta có thể tóm gọn trong hai câu thơ sau:

Chị Huyền vác nặng ngã đau

Anh Sắc không hỏi một câu được là (Tác giả 1)

2. Từ Hán Việt phần lớn viết với dấu hỏi (trong tổng số yếu tố Hán-Việt, có 176 yếu tố viết dấu hỏi, chiếm 62%; 107 yếu tố viết dấu ngã, chỉ chiếm 38%). (Tác giả 2).

 Dùng dấu hỏi khi có phụ âm đầu là CH, GI, KH và các từ khởi đầu bằng nguyên âm hoặc bán nguyên âm như ải, ảm, ảnh, ảo, ẩm, ấn, ẩu, ổn, uẩn, ủng, uổng, uỷ, uyển, ỷ, yểm, yểu.
 Dùng dấu ngã khi có phụ âm đầu là M, N (NH-NG), V, L, D, N (để cho dễ nhớ tôi viết thành Mình Nên Viết Là Dấu Ngã) (Tác giả 1).

Như vậy chỉ cần nắm các qui tắc trên và nhớ 33 trường hợp đặc biệt viết với dấu ngã là có thể viết đúng chính tả toàn bộ 283 yếu tố Hán-Việt có vấn đề hỏi ngã cũng coi như nắm được căn bản chính tả DẤU HỎI HAY DẤU NGÃ trong tiếng Việt

———————————————————————————-

Tải files tại trang http://megaupload.com: Để tải file, thầy cô tải files tại đây , khi trang tải của megaupload hiện ra, thầy cô nhấn chuột vào linhk bên cạnh các file mà thầy cô muốn tải, nhập 4 ký tự vào ô nhập theo yêu cầu để tải file

Tải sách tại trang http://www.mediafire.com: Để tải file, thầy cô tải files tại đây, khi trang tải của Media Fire hiện ra, thầy cô nhấn chuột vào Click here to start download.. để tải.

Các files Video minh họa các tiết dạy học, đánh giá HS & Bồi dưỡng CM cho HT theo CTTH mới:

(tại trang Megaupload)

1- Toán lớp 4 – Bài Dấu hiệu chia hết cho 2

2- Toán lớp 4 – Biểu thức có chứa một chữ

3- Toán lớp 4 – Bài Triệu và lớp triệu (Tiết 2)

4- Toán lớp 4 – Bảng đơn vị đo khối lượng

5- Đánh giá kết quả giáo dục ở tiểu học (1)

6- Đánh giá kết quả giáo dục ở tiểu học (2)

7- Phương pháp nghiên cứu giáo dục

8- Bồi dưỡng Hiệu trưởng về công tác chuyên môn theo CTTH mới (1)

9- Bồi dưỡng Hiệu trưởng về công tác chuyên môn theo CTTH mới (2)

10 Bồi dưỡng Hiệu trưởng về công tác chuyên môn theo CTTH mới (3)

Bên cạnh đó, các thầy cô có thể chia sẻ , trao đổi thông tin về kinh nghiệm, phương pháp dạy học, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học. Các thầy cô có thể trao đổi những vấn đề này tại đây hoặc gửi về địa chỉ email: nhatthai1969@gmail.com . Các thông tin trao đổi sẽ được tác giả cập nhật lên trang này.
Bạn có thể liên hệ với tác giả qua email tại đây:

Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13

Gửi phản hồi

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

%d bloggers like this: